Cuốn sách Kinh Thi, Kinh Thi tập truyện, ba tập, tập II của tác giả Khổng tử; Tạ Quang Phát dịch có dung lượng 1597 trang. Sách được xuất bản năm 2002. Tập này gồm toàn bộ 80 bài thơ trong Phần Tiểu nhã của Kinh thi, từ bài số 161 đến bài số 240.
Ảnh bìa của Kinh Thi, Kinh Thi tập truyện, ba tập, tập II
Tài liệu Kinh Thi, Kinh Thi tập truyện, ba tập, tập II. Dưới đây là trang bìa và mục lục của tài liệu.
📖 MỤC LỤC CHI TIẾT SÁCH KINH THI, KINH THI TẬP TRUYỆN, BA TẬP, TẬP II
TIỀU NHÃ
161. Lộc minh : Đãi dặng tân khách để vua tôi quyến luyến nhau 726 162. Tứ mẫu : Nỗi lòng của bề tôi vì việc vua sai mà không phụng dưỡng được cha mẹ 733 163. Hoàng hoàng giả hoa : Bề tôi lo công việc của vua sai 740 164. Thường đệ : Anh em, vợ con thì bao giờ cũng quý hơn bạn hữu 747 165. Phạt mộc : Tìm bạn bè, hậu đãi bạn bè 758 166. Thiên bảo : Lời của bề tôi chúc tụng vua 766 167. Thái vi : Nỗi lòng người chiến sĩ lúc ra đồn thú và lúc trở về 775 168. Xuất xa : Quân đội đi và trở về sau khi thắng trận 787 169. Đệ đốc : Vợ mong chồng đi quân dịch mau trở về 799 170. Nam cai : (Không có lời thơ 807 171. Bạch hoa : (Không có lời thơ 808 172. Hoa thử : (Không có lời thơ 808 173. Ngư ly : Các món đề ăn uống đãi khách rất nhiều và ngon 809 174. Do canh : (Không có lời thơ 815 175. Nam hữu gia ngư : Món ăn vặt uống ngon lành đem ra đãi khách 815 176. Sùng khâu : (Không có lời thơ 819 177. Nam sơn hữu đái : Lời chủ nhân chúc tụng tân khách 820 178. Do nghi : (Không có lời thơ 827 179. Lục tiêu : Lời thiên tử chúc tụng chư hầu đến chầu 827 180. Trăm lộ : Chư hầu có uy nghi dừng dắn đến chầu thiên tử được đãi dắng yến tiệc 834 181. Đồng cung : Thiên tử đãi yến và ban cung cho chư hầu 839 182. Tinh tinh giả nga : Lòng chủ nhân ham thích tân khách 845 183. Lục nguyệt : Cảnh trang tướng lãnh đem quân đánh giặc 849 184. Thái khí : Quân đội ra đánh dẹp giặc rợ làm phản 861 185. Xa công : Thiên tử đi săn cùng chư hầu 872 186. Cát nhật : Thiên tử đi săn 883 187. Hồng nhạn : Dân chúng lưu lạc nghèo khổ được vua cứu giúp 889 188. Đình liệu : Thiên tử nôn nao sắp ra triều gặp chư hầu 894 189. Miễn thuỷ : Buồn đời loạn lạc tinh dời biến dời 898 190. Hạc minh : Trong cái dở có cái hay, trong cái hay có cái dở. Hay dở dấp dời nhau 903 191. Kỳ phủ : Quân sĩ đi quân dịch oán quan chỉ huy 908 192. Bạch câu : Mong lưu giữ được người hiền tài 912 193. Hoàng điều : Dân lưu lạc đến nước khác cũng ở không yên muốn trở về 918 194. Ngã hành kỳ dã : Vì chồng phụ bạc, vợ bỏ trở về 923 195. Tư can : Vua xây dựng cung thất mà ở vào rồi sinh con trai con gái 928 196. Vô dương : Việc vua nuôi bỏ nuôi dê 943 197. Tiết nam sơn : Trách thứa tương tham bạo bắt công khưu nhân dân cùng khổ 950 198. Chính nguyệt : Buồn than dời diên dảo, nhân dân sầu khổ, tình dời thoái hoá 968 199. Thập nguyệt chi giao : Trời nghiêng dắt lở dân chúng hoạn nạn vì bọn tiểu nhân được trọng dụng 991 200. Vũ vô chính : Trách trời trách vua trách quan trong thời biến loạn 1008 201. Tiểu mân : Than triều đình toàn dứa tiểu nhận làm quan thì họa tai sẽ chẳng khỏi 1023 202. Tiêu uyên : Lời khuyên răn nhau phải giữ mình để khỏi nan 1035 203. Tiêu bàn : Lời than trách vua cha 1044 204. Xảo ngôn : Khuyên vua chớ nghe lời tiểu nhân sàm nịnh 1061 205. Hà nhân tư : Trách mắng dứa tiểu nhân đã lánh mặt 1073 206. Hạng bá : Trách mắng đứa siềm nịnh đã hại mình 1089 207. Cốc phong : Trách bạn vì tiều tiết mà bỏ quên nhau 1096 208. Lục nga : Nhớ ơn cha mẹ mà tự trách mình 1100 209. Đại đông : Thương nhân dân nghèo khổ vì vua quả vợ vèt bốc lột 1108 210. Tứ nguyệt : Thương xót cho mình và trách vua 1122 211. Bắc sơn : Lời so đo phiền trách vua không công bình, quan kia thì nhàn rảnh, ta đây thì cực nhọc 1131 212. Vô tương đại xa : Chở lo nghĩ điên ưu phiền 1138 213. Tiểu minh : Than thân mình và răn các bạn đồng liên 1141 214. Cổ chung : Trách vua đương thời và nhớ tiếc vua ngày xưa 1151 215. Sở tử : Lo cày cấy để có vật phẩm cúng tế mà nhân phúc lộc của thần 1156 216. Tín Nam sơn : Lo trồng trọt để có phẩm vật cúng tế mà được phúc 1172 217. Phủ điền : Lo cúng tế để được mùa 1182 218. Đại điền : Công việc nhà nông 1192 219. Chiếm bị lạc hi : Lời chư hầu khen tặng thiên tử 1200 220. Thường thượng giơ hoa : Lời thiên tử khen tặng chư hầu 1201 221. Tang hộ : Lời thiên tử khen thưởng chư hầu 1212 222. Cột ương : Lời chư hầu chúc phúc thiên tử 1215 223. Khuỷ biên : Mong đãi yến tiệc cho anh em được sum vầy vui thích 1219 224. Xa hạt : Lòng mừng cưới được người vợ xứng đáng 1226 225. Thanh nhãng : Khuyên vua chớ nghe lời sàm nịnh 1233 226. Tàn chỉ sơ điên : Lời răn về uống rượu trong yến tiệc 1236 227. Ngư tảo : Lời chư hầu khen tặng thiên tử 1251 228. Thái thúc : Lời thiên tử khen tặng và ban ơn cho chư hầu đến chầu 1251 229. Giác cung : Lời châm biếm vua không thân họ hàng mà lại ưa nghe kẻ sàm nịnh 1263 230. Uất liễu : Thiên tử bạo ngược nên chư hầu không dám đến giúp đỡ 1271 231. Đô phẩn đ : Trong thời suy vi, mong được thấy trẻ lại những điều đẹp để huy hoàng xưa 1276 232. Thái lục : Nỗi lòng vợ nhớ chồng 1282 233. Thả mẩu : Việc quân sĩ đi cày dấp thành 1286 234. Thấp tang : Nỗi vui mừng khi gặp người quân tử 1291 235. Bạch hoa : Hoàng hậu trách vua hờ hững lãnh xa 1295 236. Miên man : Quá khổ nhọc, mong được nơi nương tưa vô day bảo 1303 237. Hồ diệp : Chư khách ăn uống vui say với nhau 1307 238. Sạm sam chi thuch : Nỗi khổ nhọc của vị tướng suy xuất chính 1311 239. Đ ru chi hoa : Thời suy bạo, dứt sống gian nan, ăn không no đủ 1315 240. Ha thảo bái hoàng : Than bình dao, chiến sĩ khổ sở 1318