LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, cạnh tranh ngày càng gay gắt thì chỉ doanh nghiệp nào trang bị được cho mình một vũ khí sắc bén mới có thể chiến thắng trong cạnh tranh, tồn tại và phát triển vững mạnh. Không ngừng nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm là một vũ khí sắc bén mà bản thân mỗi doanh nghiệp đều nhận thức được.
Trong điều kiện hiện nay, khi mà khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão, đổi mới từng ngày thì đổi mới máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh cho phù hợp với khả năng tài chính đồng thời theo kịp trình độ khoa học kỹ thuật của thời đại là con đường ngắn nhất giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình, chiến thắng trong cạnh tranh.
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng chính sự công bằng của nền kinh tế thị trường đã đặt ra cho mỗi doanh nghiệp những trở lực rất lớn, đó chính là vấn đề vốn cho hoạt động kinh doanh. Trong đó, vấn đề huy động vốn cho đầu tư phát triển là một vấn đề nổi cộm.
Đối với Công ty Cổ phần dệt 10/10, là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh khá hiệu quả, có tốc độ tăng trưởng cao thì yêu cầu đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường là một tất yếu. Tuy nhiên, cũng như nhiều doanh nghiệp khác, công ty đang phải giải quyết rất nhiều vấn đề khó khăn, đặc biệt là khó khăn về vốn cho đầu tư đổi mới. Chính vì vậy, trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần dệt 10/10, em đã nhận thức được vấn đề đổi mới máy móc thiết bị công nghệ tăng năng lực sản xuất là một bài toán mà lời giải còn chưa hoàn thiện. Ngoài ra, cùng với mong muốn nâng cao kiến thức cả về lý luận và thực tiễn về công tác huy động vốn cho đổi mới thiết bị công nghệ, em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài “Những giải pháp chủ yếu huy động vốn đổi mới thiết bị công nghệ tại Công ty Cổ phần dệt 10/10”.
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tầm quan trọng của việc đổi mới máy móc thiết bị đối với sự phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng về thiết bị công nghệ và công tác huy động vốn đổi mới máy móc thiết bị tại Công ty Cổ phần dệt 10/10.
Chương 3: Một số giải pháp huy động vốn đổi mới máy móc thiết bị công nghệ ở Công ty Cổ phần dệt 10/10.
Để hoàn thành tốt đề tài này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo – ThS. Vũ Thị Hoa và các thầy cô giáo trong Bộ môn Tài chính Doanh nghiệp cùng sự giúp đỡ tận tâm của các cô, anh, chị phòng Tài vụ Công ty Cổ phần dệt 10/10.
Hà nội, ngày 2 tháng 5 năm 2005
Sinh viên
Lê Thị Khánh Phương
CHƯƠNG 1: TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC ĐỔI MỚI MÁY MÓC THIẾT BỊ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Tài sản cố định và vốn cố định
Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có sự can thiệp của Nhà nước là con đường phát triển kinh tế đúng đắn. Theo đó nền kinh tế ngày một phát triển, cùng với nó là sự phát triển tất yếu của các thành phần kinh tế mà cụ thể hơn là của từng doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển, lợi nhuận đã trở thành mục tiêu hàng đầu và mang tính sống còn của mỗi doanh nghiệp.
Đối với mỗi doanh nghiệp, để tiến hành sản xuất, tạo ra sản phẩm cần có ba yếu tố là: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Các tư liệu lao động (máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình. Bộ phận quan trong nhất trong các tư liệu lao động được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh đó là tài sản cố định .
1.1.1.Tài sản cố định
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu, tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp, quyết định trình độ sản xuất của doanh nghiệp.
Tiêu chuẩn:
Để được coi là tài sản cố định thì các tư liệu lao động phải thoả mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn sau:
+ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
+ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy
+ Có thời gian sử dụng ước tính trên một năm
+ Có giá trị lớn, đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định. Theo quyết định 206/2003/ QĐ- BTC ban hành ngày 12/12/2003 thì tài sản cố định phải có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên.
Đặc điểm chung của tài sản cố định là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm. Trong quá trình đó, hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của tài sản cố định là không thay đổi song giá trị của nó lại được chuyển dịch dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra. Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được bù đắp mỗi khi sản phẩm được tiêu thụ.
Trong doanh nghiệp, tài sản cố định có nhiều loại khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, sử dụng tài sản cố định, doanh nghiệp cần tiến hành phân loại tài sản cố định một cách khoa học.
µCác cách phân loại TSCĐ
*Theo hình thái biểu hiện: theo phương pháp này tài sản cố định của doanh nghiệp được chia thành 2 loại:
- Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động có hình thái vật chất như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị.
- Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tưnhư chi phí về quyền phát hành bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả.
*Theo mục đích sử dụng: Theo phương pháp này, tài sản cố định được chia thành 3 loại:
- Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh: là những tài sản cố định dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh chính và phụ của doanh nghiệp
- Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng của doanh nghiệp
- Tài sản cố định bảo quản hộ, giữ hộ, cất hộ Nhà nước: là những tài sản cố định doanh nghiệp bảo quản hộ, giữ hộ Nhà nước, các tổ chức, cá nhân khác có quan hệ với doanh nghiệp.
*Theo tình hình sử dụng: Theo phương pháp này tài sản cố định của doanh nghiệp được phân thành các loại sau:
- Tài sản cố định đang sử dụng: đó là các tài sản cố định doanh nghiệp đang sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, phúc lợi, sự nghiệp.
- Tài sản cố định chưa cần dùng: đó là các tài sản cố định cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng hiện tại doanh nghiệp đang cất trữ, chưa sử dụng đến.
- Tài sản cố định không cần dùng, chờ thanh lý: đó là những tài sản cố định không cần thiết hoặc không phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp, cần phải thanh lý, nhượng bán để thu hồi lại vốn đầu tư.
*Theo công dụng kinh tế: Theo phương pháp này tài sản cố định của doanh nghiệp được chia thành các nhóm sau:
+ Tài sản cố định hữu hình:
Nhóm 1- Nhà cửa, vật kiến trúc: là những tài sản cố định của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như: nhà xưởng, trụ sở làm việc, nhà kho.
Nhóm 2- Máy móc thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: máy móc thiết bị động lực, máy móc công tác, thiết bị chuyên dùng.
Nhóm 3- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải như phương tiện đường sắt, đường bộ và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống điện, hệ thống thông tin.
Nhóm 4- Các thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như dụng cụ đo lường, máy hút ẩm.
Nhóm 5- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm
Nhóm 6- Các loại tài sản cố định khác
+ Tài sản cố định vô hình gồm: quyền sử dụng đất có thời hạn, phần mềm máy tính, bằng sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu thương mại.
Trên đây là 4 phương pháp phân loại tài sản cố định chủ yếu trong doanh nghiệp, ngoài ra tuỳ theo đặc điểm tổ chức quản lý mà ở mỗi doanh nghiệp còn có thể tiến hành phân loại tài sản cố định theo nguồn hình thành, theo bộ phận sử dụng.
Việc phân loại tài sản cố định như trên giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu đầu tư vào tài sản cố định, tình hình sử dụng, mức độ huy động tài sản vào hoạt động kinh doanh đã hợp lý chưa. Qua đó doanh nghiệp có thể lựa chọn các quyết định đầu tư, điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư cho phù hợp đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định cho hợp lý.
1.1.2 Vốn cố định
Vốn cố định là số vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên tài sản cố định của doanh nghiệp. Chính vì vậy mà quy mô vốn cố định quyết định đến tính đồng bộ và trình độ kỹ thuật của tài sản cố định, song chính đặc điểm kinh tế của tài sản cố định lại chi phối quyết định tới đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định. Từ mối quan hệ này có thể thấy đặc điểm và những nét đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trình sản xuất kinh doanh đó là:
+ Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và chỉ hoàn thành một vòng tuần hoàn vốn sau nhiều chu kỳ kinh doanh khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Có đặc điểm này là do tài sản cố định được sử dụng lâu dài và phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất.
+ Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh vốn cố định được luân chuyển dần từng phần và được thu hồi dần từng phần. Khi tham gia vào quá trình sản xuất tài sản cố định không bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu nhưng tính năng, công dụng của nó bị giảm dần, kéo theo đó là giá trị của tài sản cũng giảm đi. Có thể thấy vốn cố định được tách thành 2 bộ phận: