1. Nội dung lý luận triết học a. Ý thức Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức đến mức coi ý thức sinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất. Còn các nhà triệt học duy vật đều thừa nhận vật chất tồn tại khách quan và ý thức là sự phản ánh sự vật đó. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi quan niệm siêu hình - máy móc nên họ đã coi ý thức là sự phản ánh sự vật một cách thụ động, giản đơn, máy móc, mà không thấy được tính năng động sáng tạo của ý thức, tính biện chứng của quá trình phản ánh.
Khách với các quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên cơ sở lý luận phản ánh coi
ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.
Ý thức theo nghĩa thông thường theo một số quan niệm của khoa học chuyên ngành, ý thức thờng được hiểu là tính có chủ ý. Nhưng theo nghĩa triết học được hiểu theo nghĩa là toàn bộ những sự phản ánh tinh thần của con người về thế giới khách quan. Phản ánh là năng lực, khả năng của một hệ thống vật chất ghi nhận và tái hiện những đặc điểm, những tính chất của một hệ thống khác. Phản ánh là nhiệm vụ phổ biến của một tổ chức.
Xét về cấu trúc ý thức bao gồm những yếu tố; tri thức, sự hiểu biết, tâm lý, tình cảm, ý chí con người, lý tưởng, ước mơ con người. Trong đó nhân tố tri thức là trung tâm bao hàm biểu hiện nhất định. Tri thức là nhân tố quan trọng nhất của ý thức, bất cứ một hình thức phản ánh của ý thức chỉ là tồn tại một khi trong nó có tri thức.
b. Bản chất của ý thức. Theo Mac nói: “
Ý thức chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc con người và cải biến đi ở trong đó”. Còn theo Lênin: “
Ý thức là hình ảnh chủ quan”.
Để hiểu bản chất của ý thức,
trước hết, chúng ta thừa nhận cả vật chất và ý thức đều là “hiện thực” nghĩa là đều tồn tại. Nhưng giữa chúng có sự khác nhau mang tính đối lập. Ý thức là sự phản ánh, là cái phản ánh; còn vật chất là cái được phản ánh. Cái được phản ánh - tức là vật chất - tồn tại khách quan, ở ngoài và độc lập với cái phản ánh tức là ý thức. Cái phản ánh - tức là ý thức - là hiện thực chủ quan, là hình ảnh chủ quan hay hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan, lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quy định, không có tính vật chất. Vì vậy không thể đồng nhất, hoặc tách rời cái được phản ánh - tức vật chất, với cái phản ánh - tức ý thức. Nếu coi cái phản ánh - tức ý thức - là hiện tượng vật chất thì sẽ lẫn lộn giữa cái được phản ánh và cái phản ánh - tức lẫn lộn giữa vật chất và ý thức, làm mất ý nghĩa của đối lập giữa vật chất và ý thức, từ đó dẫn đến làm mất đi sự đối lập giữ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Thứ hai, khi nói cái phản ánh - tức ý thức - là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, thì nó không phỉa là hình ảnh vật lý hay hình ảnh tâm lý động vật về sự vật. Ý thức là của con người, mà con người là một thực thể xã hội năng động sáng tạo. Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thé giới, cho nên
ý thức con người mang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu thực tiễn xã hội. Theo C.Mac, ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”