Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Bộ đếm miễn phí
Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và gửi mã thẻ cào cùng với địa chỉ Email của bạn và mã tài liệu DA172 đến số điện thoại sau đây: 0988.44.1615  

Sau khi nhận được thông tin tôi sẽ gửi tài liệu vào mail cho bạn ngay và thông báo cho bạn biết

Rủi ro lãi suất trong hệ thống kinh doanh ngân hàng và các giải pháp phòng ngừa

Trong những năm vừa qua, cùng với những thành tựu đổi mới của đất nước, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những đổi mới sâu sắc đóng góp vào việc ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới . Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường cũng có nhiều khó khăn , tồn tại , những rủi ro tiềm ẩn gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh và uy tín của các ngânhàng.


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
2154 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 20-06-2012 03:39:44 PM
Mã Tài liệu
DA172
Tổng điểm Đánh giá
0 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng

PHẦN 2  :   NỘI DUNG

 

Chương 1 :  Rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng

1. Khái niệm cơ bản vè rủi ro lãi suất:
1.1.Ví dụ
1.1.1.Ví dụ:
 Giả sử ngân hang A đang có nhu cầu cho vay 100 triệu có thời hạn 1 năm với lãi suất cố định là 10%/năm. Ngân hàng Q tìm kiếm nguồn hco vay bằng cách vay trên thị trường liên ngân hàng 200 triệu vớ lãi suất cố định là 6%/năm, nếu vay  1 năm và 7%/năm, nếu vay hai năm.
1.1.2 Tình trạng tái tài trợ:
Giả sử ngân hàng vay trên thị trường liên ngân hàng kỳ hạn 1 năm. Sau 1 năm, 100 triệu cho vay được trả và 200 triệu tiền đi vay phải trả: khoản gốc thu được chỉ đủ trang trải 50% nhu cầu chi trả ( ảnh hưởng của lãi coi như bẳng không). Đối với khoản cho vay 1 năm ngân hàng thu được : Chênh lệchlãi suất = 10%-6%=4%
Để có tiền trả 100 triệu còn lại, NH cần vay thêm 100 triệu trên thị trường liên ngân hàng. Như vậy, ngân hàng phải tài trợ như trên được gọi là tái tài trợ: Là tình trạng trong đó kì hạn của tài sản dài hơn kì hạn của nguồn tiền. Chênh lệch lãi suất mà ngân hang thu được phụ thuộc vào lãi suất mà ngân hàng phải trả khi tái tài trợ. Nếu lãi suất trên thị trường liên ngân hàng không đổi, chênh lệch lãi suất thu được của khoản chovay 2 năm là : Chênh lếhc lãi suất =11%-6%=5%
Ngân hàng sẽ thu được 5%/năm, trong cả hai năm. Khilãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm, chênh lệch lãi thu được năm thứ hai sữ lớn hơn 5% và khi lãi suất tăng, chênh lếch lãi suất thu được sẽ giảm thậm chí có thể ngân hàng còn bị lỗ.
   Năm1: Chênh lệch lãi suất thu được từ 200 triệu hco vay là:
[(10%-6%)100+(11%-6%)100]  =9     = 4,5%
200              200            
   Năm 2: Gỉ sử lãi suất trên thị trường giảm 1%. Do khoản cho vay với lãi suất cố định nên ngân hàng vẫn chỉ thu được lãi suất như năm 1. Kì hạn đi vay trên thị trường liên ngân hàng chỉ là mọt năm, do vậy vào năm thứ hai, lãi suất được đặt lại, chỉ cọn 5%, vậy chênh lệch lãi suaats thu được năm thứ hai : Chênh lệch lãi suất = 11% -5% = 6%
  Bình quân mỗi năm ngân hàng thu được chênh lệch :
                           (4,5%+1%)  =5,25%
                                   2
  Giả sử lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tăng thêm 4% , chênh lệch lãi suất năm thứ hai là : 11% -10% =1%
  Bình quân môĩ năm ngân hàng thu được chênh lệch là :
                            (4,5%+1%)   =2,75%
                                    2
 Tại sao ngân hạng lại dùng nguồn có kì hạn ngắn để cho vay với kị hạn dài hơn ? Một lí dolà ngân hàng kì vọng sẽ thu được chênh lệch lãi suất cao hơn. Nếu ngân hàng cho vay với kì hạn như huy động , chênh lệch lãi suất thu được là : 10%-6% = 4%.
Khithả đổ kì hạn ngânhàng thất rằng chênh lệch lãi suất năm 1 chắc chắn sẽ cao hơn, đạt 4,5%, tuy nhien, chênh lệch lãi suất năm 2 lại chưa chắc chắn, tuỳ thuộc vào mực độ và xu tướng thay đổi của lãi suất thị trường.
Ngân hang sẽ thay đổi kì hanh nếu nhà quản lí dự đoán rằng lãi suất trên thị trường liên ngân hàng sẽ giảm, hoặc tăng song mức tăng không vượt quá tỷ lệ làm cho chênh lệch lãi suất bình quân 2 năm nhỏ hơn 4%.
Chênh lệch lãi suất năm 2 an toàn cho ngân hàng = (4% x2 – 4,5%) = 3,5%
  Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng an toàn = 11% n-3,5% =7,5%.
  Nếu lãi suất trên thị trường liênngân hàng năm thứ  2 tăng tới 7,5%, thì chênh lệch lãi suất năm 2 chỉ còn 3,5%, giảm 1% so vớ năm 1. Kết cục chung, chênh lệch lãi suất bình quân2 năm đạt 4%. Nếu lãi suất tăng quá dự tính ( quá 7,5%) sẽ gây ra tỏn thất cho ngân hàng.
 
1.2.2Tình trạng tái đầu tư ( kì hạn của tài sản nhỏ hơn nguồn tài trợ)
   Các giả thiết tương tự như trếnong nguồn vay 2 năm với lãi suất cố định 7%/năm. Sau 1năm, 100 triệu được hoàn trả, thu được chênh lệch lãi suất là 3%. Ngân hàng có thể cho vay mộtkhoản mới : tái đầu tư lãi suất thu được là 3% . Khi lãi suất cho vay tăng hoặc giảm, chênh lệch lãi suất sẽ tăng hoặc giảm.
 
1.1.3 Kết luận:
 ở cả hài trường hợp trên đều có sự không phù hợp về kì hạn của tài sản và nguồn vốn trong điều kiện các hợp đồng huy động và tài trợ vói lãi suất cố định. Tình trạng này được kết hợp vớ thay đổi lãi suất ngào dự kiến trênthị trường làlãi suất nảy sinh tổn tháat cho ngân hàng. Như vậy, rủi ro lãi suất là khả năng giảm chênh lệch lãi suất khi lãi suất thị trường thay đổi.
 
1.2Khái niệm:
Để huy động vốn của doanh nghiệp và dân cư, ngân hàng phải trả lãi. Khi tài trợ, ngân hàng thu lãi. Như nhiều giá cả hàng hoá khác, lãi suất của các khoản cho vay, tiền gửi và chứng khoán thường xuyên biến động, có thể làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng và ngược lại gây tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến gắn với thay đổi của lãi suất và nhiều nhân tố khác như cấu trúc và kỳ hạn của tài sản và nguồn, quy mô và kỳ hạn các hợp đồng kỳ hạn…
 
2 .Nguyên nhân rủi ro lãi suất
Sự không phù hợp về kì hạn của nguồn và tài sản.
Sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngâng hàng.
Ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng.
 
2.1 Sự không phù hợp về kì hạn của nguồn và tài sản được đo bảng khe hở lãi suất .
  Khe hở lãi suất = Tài sản nhạy cảm lãi suất – Nguồn nhạy cảm lãi suất
Các tài sản và nguồn nhạy cảm thường là các loại mà số dư nhanh chóng chuyển sang lãi suất mới khi lãi suất thayđổi, ví dj như khoản tiền gửi ngắn hạn , các khoản cho vay và đi vay trên thi trường liên ngânhàng, chứng khoán ngắn hạn của chính phủ, các khoản cho vay ngắn hạn. Các loại ít nhạy cảm thuộc về tài sản và nguồn trung và dài hạn vớ lãi suất cố định . Ví dụ, một khoản tiền gửi tiết kiệm 3 tháng (100 tỷ) vớ lãi suất 10%/năm. Khi lãi suất thị trường thay dổi ( tăng hoặc giảm) , thì khoản tiền này ( 100tỷ )sẽ nhanh chóng chuyển sang lãi suất mới. Ngược  lại, vớ khoản tiếtkiệm 3 năm, khi lãi suất thị trương thay đổi, chỉ một phần nhỏ sắp đến hạn, hoặc mới gửi có khả năng chuyển sang lãi suất mới. Do ngân hàng sử dụng lãi suất cố dịnh đã tạo ra các tìa sản và nguồn kém nhạycảm với lãi suất.
  Ngân hàng có khe hở dương nếu tái sản nhạy cảm lớn hơnnguồn nhạy cảm (kì hạn huy động dài hơn sử dụng).
 
2.2 Sự thay đổi của lãi suất thị trương ngoài dự kiến:
  Lãi suất thị trường thường xuyênthay đôỉ . Ngân hàng luôn nghên cứu và dự báo lãi suất. Tuy nhiên , trong nhiều trường hợp ngân hàng không thẻ dự báo chính xác mức độ thay đổi của lãi suất.
 Nếu ngân hàng duy trì Khe hở lãi suất dương:
-Khi lãi suất trên thị trường tăng, chênhlếch lãi suất tăng;
-Khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lếch lãi suất giảm;
Nếu ngân hang duy trì Khe hỏ lãi suất âm:
-Khi lãi suất trên thị trường tăng, chênh lệch lãi suất giảm;
-Khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệch lãi suất tăng;
 
3 Các nhân tố phản ánh rủi ro lãi suất:
 
3.1  Khe hở lãi suất ( interest rate gap)
  Các nhà quản lý ngân hàng đã dùng khe hở lãi suất (interest rate gap) như là chỉ tiêu đo khả năng thu nhwpj giảm khi lãi suất thay đổi.
  Khe hở lãi suất hình thành do chênh lệch tài sản và nguồn nhạycảm. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới quy mô của nguồn và tái sản nhạy cảm:
-Nhu cầu về kì hạn của người sử dụng;
-Khả năng vềkì hạn của người gửi và cho vay;
-Chuyển hoán kì hạn của ngồn.
Sự khcs biệt về kì hạn của nguồn và tài sản là tất yếu. Kị hạn để phân loại tài sản và nguồn nhạy cảm không phải là kị hạn danh nghĩa mà là kì hạn tài sản và nguồn được xác định lại lãi suất. Ví dụ, một nguồn tiền huy động 2 năm, với lãi suất 10%/năm, song đã duy trì được 1 năm 10 tháng. Vậy vào thời điểm tính toán , nguồn này chỉ còn 2 tháng là đến hạn. Nếu lãi suất thị trường thay đổi , nguồn này sẽ được đặt lại giá ( xác định lãi lãi suất ).
Ngân hàng khó và không cần thiết duy trì sự phù hợp tuyệt đối về kì hạn giữa các nguồn và các loaị tài sản khác nhau trong mọi thời kì . Trước hết, kì hạn trên thường là dokhchs hàng đi vay và gửi tiền quýet ssịnh. Thứ hai, sự thay đổi của các loại lãi suất rất khác nhau và mức độ nhạy cảm của nguồn và tài sản đối với lãi suất cũng khcs nhau. Thứ ba, sự khác biệt về nguồn và tài sản nhạy cảm có kthể tạo thu nhập cao hơn cho ngân hàng. Khhi duy trì khe hở nhạy cảm khác không, nếu lãi suất thay đổi theo hướng phù hợp, thu nhập của ngân hàng sẽ tăng.
Giả sử lãi suất thay đổi với mức độ nào đó  không có lợicho ngân hàng, mức độ giảm thu nhập từ lãi của ngân hàng sẽ tỷ lệ thuận với quy mô khe hở lãi suất.
 
3.2 Sự thay đổi của lãi suất thị trường
-Trong trường hợp ngân hàng đang duy trì khe hở lãi suất dương, tức là ngân hàng dự đoán lãi suất sẽ tăng. Nếu lãi suất tài sản và nguồn nhạy cảm cùng tăng như nhau, ngân hàng sẽ có lợi; nếu chúng giảm xuống với cùng mức đội, chênh lệch lãi suất của ngân hang sẽ giảm, làm giảm thu nhập từ lãi suất.
-Trong trường hợp ngân hàng đang duy trì khe hở lãi suất âm tức là ngân hàng dự đoán lãi suất sẽ giảm. Nếu lãi suất tài sản và nguồn nhạy cảm lại tang với cùng mức độ, chênh lệch lãi suất của ngân hàng srx giảm, làm giảm thu nhập từ lãi suất. Như vậy, trạng thái tài sản và nguòn ( tạo nên khe hở lãi suất ) không phải là yếu tố duy nhất gây nên ruỉ ro lãi suất. Trạng thái trên được kết hợp với thay đổi của lãi suất ngoài mong muốn của nhà quản lí ngân hàng sẽ gây nên rủi ro lãi suất. Do khả năng dự đoán thay đổi lãi suất là có hạn trước thay đổi của môi trường kinh doang, khe hở lãi suất trưở thành yếu tố đo rủi ro lãi suấttiềm năng. Nếu khe hở lãi suất càng lớn rủi ro cũng càng lớn.
Ví dụ: Một ngân hàng đang có trạng thái nhạy cảm với lãi suất như sau ( số dư bình quân trong kì , đơn vị tỷ đồng, lãi suất bình quân %/ kì):
 
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại  VietTel mệnh giá 20.000đ sau đó gửi mã số thẻ cào cùng địa chỉ email của bạn và mã tài liệu DA172 đến số điện thoại: 0988.44.1615 Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ gửi tài liệu cho bạn và thông báo cho bạn biết
Tài liệu này không có hình ảnh khác

Tài liệu cùng loại

 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang