Các biện pháp hoàn thiện công tác tổ chức lao động tại Bưu điện huyện Tuần Giáo
Đăng ngày 08-04-2013 Lúc 10:00'- 2379 Lượt xem
Giá: 5 000 VND / 1 Tài liệu
 

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC LAO ĐỘNG

TRONG DOANH NGHIỆP

 
1.1. LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG.
   1.1.1. Vai trò của người lao động trong doanh nghiệp.
a. Khái quát về lao động trong doanh nghiệp.
Lao động là hoạt động có mục đích của con người, là quá trình sức lao động tác động lên đối tượng lao động thông qua tư liệu sản xuất nhằm tạo nên những vật phẩm, những sản phẩm theo ý muốn . Vì vậy, lao động là điều kiện cơ bản và quan trọng nhất trong sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài người.
Quá trình lao động là quá trình kết hợp giữa 3 yếu tố của sản xuất, đó là: Sức lao động - Đối tượng lao động - Tư liệu lao động.
- Mối quan hệ giữa con người với đối tượng lao động:
ở đây cũng có những mối quan hệ tương tự như trên, đặc biệt là mối quan hệ giữa kỹ năng, hiệu suất lao động với khối lượng chủng loại lao động yêu cầu và thời gian các đối tượng lao động được cung cấp phù hợp với quy trình công nghệ và trình tự lao động. Mối quan hệ giữa người với người trong lao động gồm: Quan hệ giữa lao động quản lý và lao động sản xuất. Quan hệ giữa lao động công nghệ và lao động phụ trợ; Kết cấu từng loại lao động và số lượng lao động trong kết cấu đó; Quan hệ hiệp tác giữa các loại lao động.
- Mối quan hệ giữa tư liệu lao động và sức lao động bao gồm:
Yêu cầu của máy móc thiết bị với trình độ kỹ năng của người lao động. Yêu cầu điều khiển và công suất thiết bị với thể lực con người. Tính chất đặc điểm của thiết bị tác động về tâm sinh lý của người lao động. Số lượng công cụ thiết bị so với số lượng lao động các loại.
- Mối quan hệ giữa người lao động với môi trường xung quanh:
Mọi quá trình lao động đều phải diễn ra trong một không gian nhất định, vì thế con người có mối quan hệ mật thiết với môi trường xung quanh như : gió, nhiệt độ, thời tiết, địa hình …
Nghiên cứu, nắm được và hiểu rõ các mối quan hệ trên để đánh giá một cách chính xác là vấn đề rất quan trọng, làm cho quá trình sản xuất đạt được hiệu quả tối ưu đồng thời đem lại cho con người những lợi ích ngày càng tăng về vật chất và tinh thần, con người ngày càng phát triển toàn diện và có phúc lợi ngày càng cao.
b. Vai trò của lao động trong doanh nghiệp.
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp hay một tổ chức nào thì cũng được cấu thành nên bởi các cá nhân, các thành viên là con người của nó. Trước sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh cùng với xu thế tự do hoá, cạnh tranh ngày càng gay gắt, vai trò của yếu tố con người - lao động trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Bưu chính – Viễn thông nói riêng đã và đang được quan tâm theo đúng tầm quan trọng của nó. Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải quản lý, khai thác và phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ, lao động của doanh nghiệp làm sao có hiệu quả, tạo nên được lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác. Lực lượng lao động này phải là những người có trình độ cao, được đào tạo tốt, có đạo đức, có văn hoá và đặc biệt là phải có phương pháp làm việc với khả năng sử lý tình huống nhạy bén , đạt  hiệu quả  thiết thực trong công việc .
1.1.2.  Đặc điểm của lao động trong ngành  Bưu chính - Viễn thông.
Trong quá trình lao động Bưu chính – Viễn thông ( BCVT), tham gia vào quá trình sản xuất (truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận) ngoài mạng lưới các phương tiện , thiết bị thông tin , đối tượng lao động BCVT (tin tức) còn có các lao động BCVT. Do đặc thù của ngành BCVT là một ngành dịch vụ nên lao động BCVT có những nét đặc trưng riêng như sau:
        - Thứ nhất : Tổ chức hoạt động sản xuất của ngành BCVT theo mạng lưới thống nhất, để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm cần có sự phối kết hợp của nhiều đơn vị Bưu điện . Mỗi đơn vị làm những khâu công việc khác nhau nên lao động của các đơn vị này phải có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ, chuyên môn hoá.
       - Thứ hai : Tính chất của ngành BCVT là vừa kinh doanh vừa phục vụ,  mạng lưới rộng khắp trên quy mô toàn lãnh thổ (từ đồng bằng đến miền núi, hải đảo). Do đó, việc bố trí lao động hợp lý luôn là một vấn đề khó khăn, cấp bách. Bố trí lao động BCVT Phải đảm bảo nguyên tắc: bố trí đúng trình độ, đúng chức danh và  khả năng chuyên môn, tiết kiệm được lao động, khuyến khích được người làm việc ở vùng sâu, vùng xa và tiết kiệm được chi phí.
       - Thứ ba : Do tính đa dạng của công việc nên lao động BCVT cũng rất đa dạng, bao gồm: Lao động khai thác (bưu , điện...), lao động kỹ thuật (tổng đài, dây máy..). Đối với các Bưu điện trung tâm, lưu lượng nghiệp vụ lớn thì cần có khai thác viên chuyên trách . Với các Bưu điện huyện , khu vực có lưu lượng nghiệp vụ thấp cần có các khai thác viên toàn năng , một lao động có thể khai thác các loại dịch vụ Bưu chính và Viễn thông .
Đứng trước sự tiến bộ như vũ bão của khoa học công nghệ hiện nay, các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp BCVT nói riêng không ngừng đầu tư xây dựng, đổi mới trang thiết bị , công nghệ và phương thức quản lý... nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả của quá trình lao động. Tuy nhiên, một vấn đề thực tế đặt ra là các doanh nghiệp này có đầu tư trang thiết bị , công nghệ hiện đại đến đâu mà nguồn lao động không được chú trọng đầu tư , phát triển đúng mức thì hiệu quả đem lại cũng không cao.
Với doanh nghiệp BCVT, sản phẩm của ngành là sản phẩm vô hình , do vậy nhân tố con người trong quá trình sản xuất, cung cấp dịch vụ sẽ làm tăng tính hữu hình của sản phẩm, dịch vụ. Chính vì thế , yếu tố con người trong các doanh nghiệp này không những quyết định đến số lượng mà còn quyết định đến chất lượng của sản phẩm dịch vụ.