Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Đếm Web miễn phí
Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây: *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào#  Bấm phím gọi hoặc phím OK
Chú ý:
- Giữa
Sau khi nhận được tiền tôi sẽ liên lạc với bạn ngay và gửi link tài liệu cho bạn

Sự khác biệt giữa chế độ tài chính về xác định thu nhập và kế toán thu nhập, thực trạng và giải pháp

Bước vào quá trình đổi mới đất nước ta còn gặp nhiều khó khăn, thách thức trong việc công nghiệp hoá hiện đại hoá. Một trong những khó khăn trước mắt là hội nhập nền kinh tế thế giới nói chung và hội nhập nền kinh tế khu vực nói riêng. Trên con đường hội nhập đó kế toán đóng vai trò hết sức quan trọng. Kế toán của ta phải phù hợp với kế toán quốc tế, các chuẩn mực kế toán, nguyên tắc chung về kế toán vừa đáp ứng được các yêu cầu có tính quốc tế vừa phải thích hợp với hoàn cảnh nước ta. Chỉ có như vậy chúng ta mới khuyến khích được các nhà đầu tư nước ngoài vào ta, làm cho họ an tâm khi đầu tư vào Việt Nam.


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
843 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 17-07-2012 02:46:15 PM
Mã Tài liệu
DA399
Tổng điểm Đánh giá
0 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng
PHẦN 2: THỰC TRẠNG, KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
I. Nhận xét chung.
 1. Nhận xét về chuẩn mực kế toán mới ban hành.
          Do mỗi loại hình doanh nghiệp, mỗi ngành nghề kinh doanh đều có những đặc điểm chung và những đặc điểm riêng nên để quản lý một cách chặt chẽ, sát thực nhất hoạt động sản xuất kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp, từng ngành nghề kinh doanh, Bộ Tài chính đã ban hành và cho phép tồn tại song song hai chế độ kế toán khác nhau: Chế độ kế toán ban hành theo Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/ 11/1995 và chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ ban hành theo Quyết định số 1177 TC/QĐ/CĐKT ngày 23/12/1996 và Quyết định 144/2001/QĐ/BTC ngày 21/12/2001.
Tuy nhiên những chế độ kế toán này không tránh khỏi có những sai sót phản ánh không đúng bản chất của một số nghiệp vụ kinh tế. Để khắc phục những nhược điểm này và để cho chế độ kế toán Việt Nam gần với chuẩn mực kế toán Quốc tế, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 149/2001/BTC ngày 31/12/2001 về việc ban hành và công bố bốn chuẩn mực kế toán Việt Nam   (đợt 1). Quyết định số 165/2002/QĐ - BTC ngày 31/12/2002 ban hành thêm sáu  chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt 2). Việc ban hành và công bố chuẩn mực kế toán Việt Nam là một bước phát triển rất quan trọng trong lịch sử kế toán Việt Nam, nó đánh dấu sự hội nhập của kế toán Việt Nam với kế toán quốc tế.
          Chuẩn mực kế toán 14 “Doanh thu và thu nhập khác” là quy định chung nhất nêu rõ được về kết quả tiêu thụ và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chuẩn mực đã sửa đổi và bổ sung một số tài khoản như: chuyển TK 511 “Doanh thu bán hàng” thành TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”, chuyển TK 711 “Thu nhập hoạt động tài chính” thành TK 711 “Thu nhập khác”, chuyển TK 811 “Chi phí hoạt động tài chính” thành TK 811 “Chi phí khác”; đưa thêm TK 515 “Doanh thu hoạt động tài chính”, TK 635 “Chi phí tài chính”, TK 521 “Chiết khấu thương mại”; bỏ TK 721 “Thu nhập bất thường”, TK 821 “Chi phí bất thường”.
          Sự thay đổi này đã góp phần sửa chữa những sai sót về hạch toán không đúng bản chất của một số nghiệp vụ như chiết khấu thương mại cho khách hàng không phải là một khoản chi phí tài chính mà là một khoản giảm trừ doanh thu, hoàn nhập các khoản dự phòng không phải là một khoản thu nhập mà là một khoản ghi giảm chi phí.
          Như vậy việc ban hành chuẩn mực kế toán “Doanh thu và thu nhập khác” đã giúp cho việc xác định và hạch toán các khoản thu nhập của doanh nghiệp được dễ dàng hơn và thống nhất, đồng bộ hơn, phản ánh một cách đúng nhất các nghiệp vụ kinh tế có liên quan.
          Chuẩn mực kế toán Việt Nam mới được ban hành vì vậy nó vẫn còn nhiều mới mẻ đối với một số doanh nghiệp, và còn nhiều khác biệt so với chế độ tài chính,và chế độ thuế hiện hành. Chế độ tài chính hiện hành vẫn còn có những quy định có thể gọi là “lạc hậu”, không phản ánh trung thực một số vụ việc, sự kiện.
2. Thực trạng của doanh nghiệp.                                
         Việc áp dụng các chuẩn mực Kế toán mới còn nhiều khó khăn trong các doanh nghiệp (đặc biệt là ở các vùng xa trung ương). Do trình độ của các kế toán viên, kiểm toán viên còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng chưa thể áp dụng sự đổi mới đến tất cả các doanh nghiệp. Do dạng hình doanh nghiệp đa dạng dẫn đến kế toán cũng khác nhau, chưa thống nhất được chung (như  kế toán ngân hàng...). Việc áp dụng kế toán máy trong doanh nghiệp đến nay hết sức phổ biến vì có những thay đổi trong chuẩn mực kế toán nên kế toán máy cũng cần có những phiên bản thay đổi kịp với yêu cầu mới.
2.1.Thực trạng về sự khác biệt giữa chế độ tài chính về xác định thu nhập với kế toán thu nhập:
  Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, cơ chế, chính sách đang trong quá trình hoàn thiện. khi có những sửa đổi bổ sung về cơ chế tài chính, chính sách thuế thì chế độ kế toán phải sửa đổi theo cho phù hợp. Bộ Tài Chính không thể chờ có cơ chế chính sách hoàn thiện làm cơ sở xây dựng mà phải xây dựng một hệ thống chuẩn mực kế toán cho phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với nền kinh tế Việt Nam, sau đó sẽ có những biện pháp sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách cho đồng bộ. điểm này không thể không phát sinh những mâu thuẫn giữa những qui định trong chuẩn mực với chính sách tài chính và chính sách thuế hiện hành. chuẩn mực “doanh thu và thu nhập khác” cũng là một trong những chuẩn mực còn có một số điểm chưa thống nhất với cơ chế , chính sách hiện hành.
Ông LẠI HỮU ƯỚC (bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) nêu lên thực trạng về mâu thuẫn giữa chuẩn mực kế toán và chính sách thuế của nhà nước. Do chuẩn mực kế toán có tính độc lập nên không phụ thuộc vào các chính sách thuế của nhà nước như vậy giữa các văn bản pháp quy trên chắc chắn không có nội dung thống nhất với nhau và một trong những nội dung không thống nhất với nhau đó là việc tính doanh thu và chi phí để xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó dẫn đến việc tính toán lợi nhuận khác nhau và cơ quan thuế có thể thu thuế khác với tính toán của doanh nghiệp gây ra nhiều mâu thuẫn bất đồng và khó khăn cho doanh nghiệp.
2.2. Về cách phân loại doanh thu:
   Cơ chế tài chính Việt Nam qui định việc quản lý doanh thu - chi phí tại Thông tư số 63/ 1999/ TT-BTC ngày 7/6/1999 trong đó doanh thu gồm doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập từ các hoạt động bất thường, và tương ứng với doanh thu có chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí hoạt động tài chính, chi phí hoạt động bất thường. Tuy nhiên, chuẩn mực “doanh thu và thu nhập khác” lại có qui định khác: thu nhập bao gồm doanh thu và thu nhập khác. trong đó, doanh thu từ hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính. Thu nhập khác như từ thanh lý tài sản cố định được phản ánh trên báo cáo tài chính theo số thuần (doanh thu đã trừ chi phí liên quan) và ngược lại, chi phí khác cũng được phản ánh theo số thuần (đã trừ thu nhập liên quan). Điều này rất khác so với chế độ hiện hành của Việt Nam vì hiện nay trên báo cáo kết quả kinh doanh chúng ta phản ánh tách biệt thu nhập và chi phí của hoạt động tài chính và hoạt động bất thường.
2.3. Về chiết khấu bán hàng:
   Theo qui định tại Thông tư số 63/1999TT- BTC ngày 7/6/1999, chiết khấu bán hàng được phản ánh vào chi phí tài chính. Tuy nhiên, xét về mặt bản chất thì đây không phải là một khoản chi phí tài chính, do đó chuẩn mực “doanh thu và thu nhập khác” qui định đây là khoản làm giảm trừ doanh thu.
2.4. Về tính thuế đối với hoạt động trao đổi hàng hoá - dịch vụ:
  Chế độ tài chính qui định hàng xuất kho đem đi đổi coi như bán, hàng nhận về do đổi hàng coi như mua. Vì vậy, theo Thông tư số 122/2000/TT-CP ngày 29/12/2000 của Chính phủ qui định : sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, dùng để trao đổi thì giá tính thuế là giá của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng loại hạch tương đương tại cùng thời điểm phát sinh hoạt động này . Qui định nay đối với những trường hợp trao đổi không tương tự về bản chất thì là đúng. còn đối với những trường hợp trao đổi tương tự về bản chất và giá trị thì thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp bằng với thuế giá trị gia tăng dầu vào được khấu trừ. chuẩn mực kế toán “doanh thu và thu nhập khác” qui định: khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá hoặch dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu và không được ghi nhận là doanh  thu.
II. Kiến nghị và giải pháp
         + Theo ý kiến của ông LẠI HỮU ƯỚC (bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) có kiến nghị như sau về chuẩn mực kế toán mới ban hành nói chung và về chuẩn mực số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” nói riêng.
            1. Chuẩn mực kế toán là vấn đề mới và chưa đầy đủ, nên chăng chưa bắt buộc thi hành ngay từ 01/01/2002 mà thực hiện thí điểm ở một số loại hình doanh nghiệp như đã áp dụng đối với chế độ kế toán theo quyết định 1141. Sau khi ban hành đầy đủ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia tiến hành tổng kết, sửa đổi, bổ sung sẽ thi hành thống nhất với tất cả các loại hình doanh nghiệp trong cả nước.
            2. Tăng cường tuyên truyền và mở lớp bồi dưỡng kiến thức cơ bản kế toán tài chính cho các chức danh là lãnh đạo, cán bộ quản lý doanh nghiệp.
            3. Báo cáo tài chính của doanh nghiệp khi đã được tổ chức kiểm toán hợp pháp xác nhận thì cơ quan thuế căn cứ vào kết quả kiểm toán để thực hiện chính sách thuế. Nếu phát hiện kết quả kiểm toán có sai sót dẫn đến phải thu thêm thuế thì tổ chức kiểm toán phải có trách nhiệm giải trình và nộp thay hoặc bồi thường cho doanh nghiệp khoản rủi do đó.
       + Có một số ý kiến cho rằng việc quy định các tài khoản chi tiết cho tài khoản 511, 512 là không cần thiết, nhà nước chỉ cần quy định các tài khoản “mẹ” còn các tài khoản “con” để cho doanh nghiệp tự làm lấy và sẽ phù hợp với dạng hình kinh doanh của doanh nghiệp, phù hợp với quy mô của doanh nghiệp. Với một vài doanh nghiệp cần chi tiết cả với các tài khoản 531, 532.. như vậy doanh nghiệp sẽ tự xây dựng các tài khoản “con” cho mình và nhà nước chỉ quản lý ở các tài khoản “mẹ”.
       + Thạc sĩ ĐẶNG ĐỨC SƠN (Đại học thương mại) có đề nghị cần có chứng chỉ hành nghề kế toán. Ông viện ra các nước phát triển từ lâu đã có việc cấp chứng chỉ hành nghề kế toán. Công việc này thường do các hiệp hội hoặc các viện kế toán chuyên nghiệp đảm nhiệm. Việt Nam chúng ta đã có Hội kế toán Việt Nam được thành lập năm 1994 và hiện nay có khoản 4700 người. Tuy nhiên, tổ chức này mới chỉ dừng lại ở mức gặp gỡ trao đổi thông tin giữa những hội viên mà chưa được giao thực hiện chức năng đánh giá chất lượng công tác kế toán của các hội viên. Ông nêu ra các lợi ích của việc cấp chứng chỉ hành nghề.
            1. Tạo ra một tiêu chuẩn nghề nghiệp về chất lượng công việc mà những người có chứng chỉ có khả năng cung cấp, giảm nhẹ gánh nặng thi tuyển cho người tuyển dụng, tạo ra một mặt bằng chất lượng công tác đáng tin cậy  cho toàn xã hội.
            2. Là cơ sở để định hướng công tác đào tạo cho các cơ sở đào tạo chuyên nghành kế toán, nâng cao chất lượng và đổi mới phương pháp giảng dạy kế toán. Hướng mục tiêu giảng dậy vào chất lượng sinh viên đầu ra cả về kiến thức và khả năng áp dụng kiến thức trong công tác chuyên môn.
            3. Góp phần nâng cao vị thế của tổ chức những người làm kế toán Việt Nam trên diễn đàn quốc tế. Việc tổ chức quản lý, đánh giá thi tuyển và cấp chứng chỉ cho các kế toán viên giúp cho việc nâng cao vai trò của tổ chức  hội nghề nghiệp, góp phần phát triển và bồi dưỡng nhân tài, đồng thời hội là đại diện của những người làm kế toán Việt Nam để tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến nghề nghiệp kế toán trên phạm vi quốc tế.
            4. Việc thu lệ phí cấp chứng chỉ và hội phí sẽ góp phần vào việc tăng cường nguồn lực tài chính cho hoạt động của hội.
       + Bản thân em cũng có một vài kiến nghị sau đây:
   1. Bộ Tài chính nên nhanh chóng ban hành các chuẩn mực kế toán còn lại để tạo ra sự thống nhất đồng bộ vì tài chính kế toán là một hệ thống lôgíc chặt chẽ.
            2. Bộ Tài chính nên đưa ra một hệ thống tài khoản kế toán sử dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp, bao gồm các tài khoản cấp I và một số tài khoản cấp II. Việc chi tiết thêm một số tài khoản cấp II, cấp III ... là tuỳ thuộc vào nhu cầu quản lý của từng doanh nghiệp để doanh nghiệp tự mở các tài khoản chi tiết cho phù hợp.
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 10.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây:  *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào# Nhấn gửi hoặc phím OK Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ liên lạc với bạn và gửi link tài liệu cho bạn
Tài liệu này không có hình ảnh khác

Tài liệu cùng loại

Tên tài liệu
 Mã tài liệu
 Ngày đăng
 Lượt xem
 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang