Mua mua đồ gỗ trắc giá tốt.    Chuyên thu mua bàn ghế cũ giá tốt.   Urashop chuyên mỹ phẩm, mỹ phẩm hàn quốc giá tốt.

Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Đếm Web miễn phí
Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây: *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào#  Bấm phím gọi hoặc phím OK
Chú ý:
- Giữa
Sau khi nhận được tiền tôi sẽ liên lạc với bạn ngay và gửi link tài liệu cho bạn

Những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản năm 1952 - 1973

Sự thành công của Nhật Bản không phải chỉ ở chỗ điều hoà thu nhập giữa khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân, mà còn ở khía cạnh điều hoà phúc lợi xã hội, từ đó kích thích sản xuất và tạo ra tăng trưởng mới. Những thành quả tăng trưởng kinh tế đã được “chia lại” tương đối đều cho các tầng lớp xã hội khiến cho nhiều người dân nước này lại có thêm vốn đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo tay nghề.


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
1913 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 22-06-2012 04:09:53 PM
Mã Tài liệu
DA281
Tổng điểm Đánh giá
1 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng

CHƯƠNGI: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN THỜI KỲ 1952-1973.

    
         Bị thất bại trong chiến tranh, bị tàn phá nặng nề về kinh tế: 34% máy móc, 25% công trình xây dựng, 81% tàu biển bị phá huỷ, sản xuất công nghiệp tháng 8-1945 tụt xuống còn vài phần trăm so với một vài năm trước đó, và chỉ bằng khoảng 10% mức trước chiến tranh(1934-1936), nước Nhật chìm trong khủng hoảng trầm trọng về nhiều mặt.Nhưng đó chỉ là tiền đề để một nước Nhật khác hẳn hoàn toàn ra đời. Thời kì phát triển kinh tế nhanh trên toàn thế giới rất hiếm có trong lịch sử kéo dài từ đầu những năm 50 đến đầu những năm 70 cũng là một thời kì mà Nhật Bản đẵ có những biến đổi thần kì kinh tế trong nước cũng như trong quan hệ với nền kinh tế thế giới. những biến đổi này có tính liên tục và tăng nhanh về lượng. Nó không phải là kết quả của những chính sách đặc biệt của chính phủ cũng như không phải là kết quả của một vài thành tích anh hùng mà là do những cố gắng tích luỹ của toàn thể nhân dân Nhật Bản được sự phát triển của công nghiệp kích thích, các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế đều tăng trưởng nhanh, nhờ vậy tổng sản phẩm quốc dân, chỉ tiêu tổng quát cho mức hoath động của nền kinh tế đã tăng mạnh. Từ năm 1952 đến năm1958, tổng sản phẩm quốc dân dã tăng với tốc độ 6,9%bình quân hằng năm. năm 1959, khi tốc độ tăng trưởng vượt 10%, nền kinh tế Nhật Bản vẫn chưa gây được sự chú ý của thế giới. những năm sau, khi tốc độ tăng trưởng vượt tốc độ của những năm trước thì thế giới bắt đầu kinh ngạc và gọi đó là Sự Thần Kì Về Kinh Tế. Tốc độ cao này được duy trì suốt những năm 1960.Tất nhiên sự tăng trưởng vẫn diễn biến theo chu kì nhưng trong thập kỉ này tổng sản phẩm quốc dân tăng trung bình hằng năm là 10%. trong những năm 1970 - 1973 tốc độ tăng trưởng trung bình hơi giảm đi còn 7,8% nhưng vẫn cao hơn tiêu chuẩn quốc tế (Bảng 1 ) Về giá trị tuyệt đối, năm 1950,tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản mới đạt 24 tỉ đô la, nhỏ hơn bất kì một nước phương tây nào và chỉ bằng vài phần trăm so với tổng sản phẩm quốc dân Mỹ, tổng sản phẩm quốc dân của NB đạt khoảng 360 tỉ đôla tuy vẫn còn nhỏ hơn Mỹ, song sự chênh lệch đã thu hẹp lại còn 3/1.Nhân tố hàng đầu trong tăng trưởng kinh tế của NB thời kì này là sự phát triển nhanh chóng các ngành công nghiệp chế tạo. Chỉ số sản xuất công nghiệp (1934 – 1936:= 100) tăng từ 160 năm 1955 lên 1345 năm 1970. Sự giảm bớt sức lao động trong nông nghiệp và lâm nghiệp cũng rất đáng chú ý: Nó giảm từ 16 triệu năm 1955 xuống 8,4 triệu năm 1970 và phần của nó trong tổng lực lượng lao động giảm từ 38,3% xuống 17,4% trong cùng thời kì.
Năm tài chính Theo giá hiện hành (%) Theo giá bất biến của năm 1965
1951 38,8% 13,0%
1952 16,3 13,0
1953 18,1 7,9
1954 4,0 2,3
1955 13,3 11,4
1956 12,3 6,8
1957 13,0 8,3
1958 4,8 5,7
1959 15,5 11,7
1960 19,1 13,3
1961 22,5 14,4
1962 9,1 5,7
1963 18,1 12,8
1964 15,9 10,8
1965 10,6 5,4
1966 17,2 11,8
1967 17,9 13,4
1968 17,8 13,6
1969 18,0 12,4
1970 16,3 9,3
1971 10,7 5,7
1972 17,6 12,0
          (Nguồn: Cục kế hoạch kinh tế).
 
Bảng 2: Chỉ số sản xuất công nghiệp của các ngành chính (1965=100)
Ngành 1955 1960 1965 1970
Dệt 42,2 68,2 100 154,0
Giấy và bột giấy 34,1 63,9 100 175,9
Hoá chất 25,2 51,0 100 204,0
Dầu lửa và  sp than 18,7 47,2 100 216,7
Gốm 32,0 62,5 100 175,8
Sắt và thép 24,6 56,3 100 230,9
Kim loại màu 25,9 61,6 100 211,4
Máy móc 14,6 51,2 100 291,6
Tổng cộng (CN chế tạo) 26,0 56,9 100 218,5
Nguồn: Bộ công nghiệp và mậu dịch quốc tế.
Trong các ngành công nghiệp khu vực II, sự phát triển của các ngành công nghiệp nặng và hoá chất (máy móc, kim khí và hoá chất) là nổi bật nhất như ta đã thấy ở bảng 2. Sự phát triển của công nghiệp cơ khí là đáng chú ý vì chỉ số của nó (1965=100) tăng 14,6 năm 1955 lên 291,6 năm 1970, hơn 20 lần trong 15 năm. Tuy vậy chỉ số của ngành công nghiệp dệt chỉ gia tăng tương đối nhỏ: từ 42,2 năm 1955 lên 154,0 năm 1970.
Kết quả của sự phát triển nói trên là phần của các ngành công nghiệp nặng và hóa chất trong tổng sản lượng của công nghiệp chế tạo đạt tới 57% năm 1970, cao hơn phần tương ứng ở Tây Đức hoặc ở Mỹ.
Quá trình tăng trưởng này không phải là sự phát triển nhẹ nhàng, không gấp khúc. Trong thời gian này, nền kinh tế NB đã trải qua những thăng trầm khá rõ rệt, chia ra thành những chu kì dài khoảng hơn 3 năm đôi khi 2 năm hoặc 5 năm. Những sự lên xuống này diễn biến một cách có hệ thống và phần lớn theo một lề lối nhất định. Tính từ năm 1951 đến năm 1973 có tất cả 7 thời kì phồn thịnh và 8 lần suy thoái. Những lần suy thoái chu kì này chỉ biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng chậm lại chứ không phải là giảm sút tuyệt đối. Những nhà kinh tế phân tích theo quan điểm chu kì công nghiệp của Các Mác cho rằng chu kì tái sản xuất tư bản ngắn lại rất tiêu biểu ở NB gắn chặt với sự rút ngắn chu kì đổi mới kỹ thuật nhờ tiến bộ khoa học sau chiến tranh. Còn một số nhà kinh tế NB gọi đây là chu kì hàng hoá tồn kho. Lí do tái diễn chu kì hàng tồn kho gắn với những thiếu hụt trong các cán cân thanh toán quốc tế. Thời kì phồn thịnh: Sản xuất mở rộng, tiêu dùng sản xuất và cá nhân đều tăng đã làm tăng nhập khẩu, do vậy cán cân thanh toán bị thiếu hụt. Khi xuất hiện sự tăng hàng tồn kho và giảm dự trữ ngoại tệ, Chính Phủ thực hiện chính sách thắt chặt tài chính tiền tệ. Khi điều kiện tài chính bị xiết chặt thì đầu tư giảm, tiêu dùng trong nước cũng giảm theo. Tất nhiên, hàng tồn kho giảm do giảm đầu tư, cán cân thanh toán quốc tế trở lại thuận lợi do giảm nhập khẩu và khi đó Chính Phủ lại nới lỏng chính sách tài chính, tiền tệ, chu kì hàng tồn kho mới lại bắt đầu. Việc thắt chặt tiền tệ được áp dụng vào đỉnh điểm của các thời kì phồn thịnh năm 1951, 1954, 1957 – 1958, 1961 – 1962, 1964, 1967, 1969 – 1970 và 1973 – 1975. Từ thời kì khan hiếm tiền kéo dài trong 2 năm liền 1973 – 1975, tổng số các thời kì khan hiếm tiền chỉ khoảng 12 tháng. Chính sách hạn chế tiền tệ của Nhật tỏ ra tác dụng nhanh với hiệu quả cao.

Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 10.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây:  *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào# Nhấn gửi hoặc phím OK Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ liên lạc với bạn và gửi link tài liệu cho bạn
Tài liệu này không có hình ảnh khác

Tài liệu cùng loại

Tên tài liệu
 Mã tài liệu
 Ngày đăng
 Lượt xem
 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang