Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Bộ đếm miễn phí
Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và gửi mã thẻ cào cùng với địa chỉ Email của bạn và mã tài liệu T019 đến số điện thoại sau đây: 0988.44.1615  

Sau khi nhận được thông tin tôi sẽ gửi tài liệu vào mail cho bạn ngay và thông báo cho bạn biết

Tín dụng: cơ sở lí luận và thực tiễn ở Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, muốn vậy cần có nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao. Trong đó nhu cầu về vốn là hết sức cần thiết, được coi là yếu tố hàng đầu, là tiền đề phát triển kinh tế.Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của đảng đã đề ra: “để công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước cần huy động nhiều nguồn vốn sẵn có với sử dụng vốn có hiệu quả, trong đó nguồn vốn trong nước là quyết định nguồn vốn bên ngoài là quan trọng...”. Tín dụng ra đời rất sớm, ra đời khi xã hội bắt đầu có sự phân công lao động xã hội và chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Tín dụng đã tồn tại và phát triển ở nhiều nền kinh tế với các mức độ phát triển khác nhau. Đặc biệt hiện nay trong nền kinh tế thị trường, nền sản xuất hàng hoá phát triển mạnh mẽ, cùng với sự tồn tại các mối quan hệ cung- cầu về hàng hoá, vật tư, sức lao động thì quan hệ cung cầu về tiền vốn đã xuất hiện và ngày một phát triển như một đòi hỏi cần thiết khách quan của nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu tiết kiệm và đầu tư. Nhà nước đã sử dụng tín dụng như một công cụ quan trọng trong hệ thống các đòn bẫy kinh tế để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
1516 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 07-05-2012 08:27:00 PM
Mã Tài liệu
T019
Tổng điểm Đánh giá
0 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng
II. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
        1. Cơ sở lí luận về tín dụng
    1.1. Khái niệm:
           Tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả.
        Danh từ tín dụng dùng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp như: bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo hành,ký thác, phát hành giấy bạc.
        Trong mỗi một hành vi tín dụng có hai bên cam kết với nhau như sau:
        - Một bên thì trao ngay một số tài hoá hay tiền tệ
        - Còn một bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của sổ tài hoá trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó.
        Nhà kinh tế pháp, ông Louis Baudin, đã định nghĩa tín dụng như  là “ Một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hóa tương lai”. ở đây yếu tố thời gian đã xen lẫn vào và cũng vì có sự xen lẫn đó cho nên có thể có sự bất trắc, rủi ro xảy ra và cần có sự tín nhiệm của hai bên đương sự đối với nhau. Hai bên đương sự dựa vào sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau vì vậy mới có danh từ thuật ngữ tín dụng. Những hành vi tín dụng có thể do bất cứ ai thực hiện. Chẳng hạn hai người thường có thể cho nhau vay tiền. Tuy nhiên ngày nay khi nói tới tín dụng người ta nói ngay tới các ngân hàng vì các cơ quan này chuyên làm các việc như cho vay, bảo lảnh, chiết khấu, kí thác và phát hành giấy bạc.
        1.2. Cơ sở ra đời của tín dụng
           Khi có sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì tín dụng ra đời. Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất dẫn đến sở hữu tư nhân về sản phẩm làm ra. Xã hội có sự phân hoá giàu nghèo. Những người nghèo khi gặp khó khăn trong cuộc sống họ phải vay mượn. Tín dụng ra đời. Trên phương diện xã hội, do có sự phân công lao động xã hội hình thành sản xuất hàng hoá và tiền tệ đã xuất hiện để sử dụng trong quá trình sản xuất hàng hoá. Người sản xuất có lúc thiếu vốn bằng tiền để tiến hành sản xuất kinh doanh nhưng có lúc thừa vốn bằng tiền. Để điều chỉnh nhu cầu và khả năng vốn bằng tiền của các chủ thể trong quá trình sản xuất hàng hoá đòi hỏi tín dụng ra đời.
        Trong lịch sử phát triển kinh tế xã hội, hình thức đầu tiên của tín dụng là tín dụng nặng lãi được ra đời vào thời kì cổ đại. Trong xã hội nô lệ và nhất là ở xã hội phong kiến, tín dụng nặng lãi đã phát triển và mở rộng hơn. Đặc điểm của tín dụng nặng lãi là lãi suất rất cao, hình thức vận động của vốn rất đa dạng, dưới nhiều hình thức và mục đích vay vào tiêu dùng là chủ yếu. Khi phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa hình thành và phát triển, nền sản xuất hàng hoá lớn được mở rộng, tín dụng tư bản chủ nghĩa về cơ bản đã thay thế tín dụng nặng lãi. Tuy vậy tín dụng nặng lãi không mất đi mà vẫn tồn tại và phát triển ở nhiều nền kinh tế với các mức độ phát triển khác nhau. Hiện nay tín dụng nặng lãi vẫn tồn tại phổ biến ở các nước chậm phát triển. Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, tín dung cũng không ngừng mở rộng và phát triển đa dạng. Chủ thể tham gia tín dụng bao gồm tất cả các thành phần kinh tế: Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân, tư nhân. tập thể, tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ trong nước,quốc tế. Các quan hệ tín dụng được mở rộng cả về đối tượng và quy mô hoạt động. Thể hiện ở các ngân hàng có mặt ở hầu hết mọi nơi. Hầu như toàn bộ các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh đều sử dụng vốn tín dụng dưới hình thức vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, mua chịu hàng hoá. Khối lượng vốn tín dụng ngày ngày càng lớn, các hình thức tín dụng ngày càng đa dạng (tín dụng nhà nước,ngân hàng, thuê mua, nặng lãi...).
        1.3. Bản chất của tín dụng
          Tín dụng rất phong phú và đa dạng về hình thức. Bản chất của tín dụng thể hiện ở các phương diện sau: Một là người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người khác sử dụng một thời gian nhất định. Lúc này, vốn được chuyển từ người cho vay sang người vay. Hai là, sau khi nhận được vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng để thõa mãn một hay một số mục đích nhất định. Ba là, đến thời hạn do hai bên thỏa thuận, người vay hoàn trả lại cho người cho vay một giá trị lớn hơn vốn ban đầu, tiền tăng thêm được gọi là phần lãi.
        Các Mác đã viết về bản chất của tín dụng như sau: “ Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sơ hữu một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người tư hữu sang tay nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền không phải bỏ ra để thanh toán, cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với một điều kiện là nó sẽ quay về điểm xuất phát sau một kì hạn nhất định”. Đồng thời  CácMác cũng vạch ra yêu cầu của việc tiền quay trở về điểm xuất phát là: “vẫn giữ được nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn lên trong quá trình vận động”. Đến nay các nhà kinh tế đã có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng nhưng đều phản ánh một bên là đi vay và một bên là cho vay, nó dựa trên cơ sở của lòng tin. Lòng tin được thể hiện trên khía cạnh: người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và là quan hệ có thời hạn, có hoàn trả. Đây là bản chất của tín dụng.
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại  VietTel mệnh giá 20.000đ sau đó gửi mã số thẻ cào cùng địa chỉ email của bạn và mã tài liệu T019 đến số điện thoại: 0988.44.1615 Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ gửi tài liệu cho bạn và thông báo cho bạn biết
Tài liệu này không có hình ảnh khác

Tài liệu cùng loại

 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang