Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Đếm Web miễn phí
Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây: *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào#  Bấm phím gọi hoặc phím OK
Chú ý:
- Giữa
Sau khi nhận được tiền tôi sẽ liên lạc với bạn ngay và gửi link tài liệu cho bạn

Lãi suất ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

Lãi suất là một phạm trù kinh tế quan trọng được đề cập trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế từ tiết kiệm, đầu tư, kiểm soát lạm... Nhà nước sử dụng lãi suất làm công cụ của chính sách tiền tệ điều tiết các quan hệ kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng phát triển. Do tầm quan trọng và cách thức tác động vào lãi suất của nhà nước hình thành nên nhiều quan điểm, xu hướngkhác nhau về lãi suất và điều hành lãi suất.


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
1849 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 10-07-2012 09:29:39 AM
Mã Tài liệu
DA365
Tổng điểm Đánh giá
3 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng

I.         Tự do hoá lãi suất

1.   Khái niệm về tự do hoá lãi suất

Tự do hoá lãi suất xuất phát từ những cơ chế điều hành chính sách lãi suất và sử dụng công cụ lãi suất trong chính sách tiền tệ.
Như phần đầu của chuyên đề đã nêu ra ,NHTW có thể tác động vào lãi suất theo trong hai cách sau:
*   Dùng qui định hành chính.
*   Dùng tác động kinh tế .
Ở nhiều nước, NHTW đã không còn quản lý lãi suất bằng các công cụ hành chính mà chủ yếu sử dụng công cụ kinh tế là lãi suất cho vay của NHTW đối với ngân hàng thương mại. Cùng với sự phát triển cao của hệ thống tài chính ngân hàng quốc tế, quan điểm về điều hành chính sách lãi suất theo cơ chế tự do hoá lãi suất tác động bằng công cụ thị trường tới lãi suất như của:Anh, Mỹ là mục tiêu mà các quốc gia đều hướng tới. Tự do hoá lãi suất -hạt nhân của tự do hoá tài chính -là để cho lãi suất tự hình thành thị trườngtrên cơ sở: cung cầu về vốn; mức tiết kiệm; thu nhập và chi tiêu của cá nhân và những nhân tố khác; loại bỏ những áp đặt mang tính hành chính nên quá trình hình thành lãi suất; cho phép các tổ chức tín dụng tự chủ trong việc ấn định các mức lãi suất. NHTW chỉ gián tiếp tác động lên lãi suất thông qua các công cụ có tính định hướng, dấu hiệu cho thị trường là các công cụ công cụ tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, hợp đồng mua lại và dự trữ bắt buộc.
Nó ngược  với những quan điểm về điều hành chính sách lãi suất một cách cứng nhắc thông qua các biện pháp ấn định lãi suất chủ quan, làm mất đi những tính năng ưu việt của lãi suất. Cơ chế này được gọi là cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp.
Làn sóng  tự do hóa lãi suất bắt đầu vào những thập kỷ 80- 90.Vậy nguyên nhân từ đâu ?
a.      Những bất lợi của cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp.
Trước hết phải thừa nhận rằng, kiểm soát trực tiếp lãi suất có một số ưu điểm và thuận lợi sau:
*  Dễ thực hiện.
*  Phù hợp với mức thị trường tài chính sơ khai và mức độ canh tranh kém.
*  Chưa có công cụ kiểm soát tiêng tệ gián tiếp.
*  Hạn chế trong năng lực quản lý.
*  Nguồn vốn tín dụng từ NHTW chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của nền kinh tế. Nhưng đối với nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và với quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra nhanh chóng, thì không thể duy trì lâu cách kiểm soát lãi suất. Kiểm soát lãi suất tỏ ra kém hiệu quả do dễ bị các tổ chức tín dụng lẩn tránh, khả năng cạnh tranh thấp, dẫn đến suy giảm chức năng tài chính của hệ thống ngân hàng.
Kiểm soát lãi suất dẫn đến suy giảm chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng:
-         Nguồn tiết kiệm và tích luỹ sẽ chảy ra thị trường tài chính phi tổ chức và không bị quản lý chúng biểu hiện dưới dạng :
*  Ngân hàng kiểu chính sách tăng lên.
*  Cho vay qua thị trường không chính thức.
*  Nắm giữ ngoại tệ, tích luỹ kim loại quí hàng lâu bền.
-         Kiểm soát lãi suất kém hiệu quả trong việc điều hành chính sách tiền tệ:
Kiểm soát lãi suất sẽ khuyến kích kiểm soát chi tiết các chi điều kiện tiền tệ bằng cách áp đặt cơ cấu lãi suất phức tạp như tồn tại nhiều loại trần lãi suất cho vay gây kém hiệu quả và biến dạng hơn.Việc kiểm soát lãi suất sẽ giảm hiệu quả của việc kiểm soát tiền tệ, bởi vì sự gia tăng và mở rộng của các thị trường ngoài thị trường được kiểm soát. Các tổ chức kinh tế và ngân hàng thương mại thừơng tìm cách để tránh sự kiểm soát, do đó ngày càng nhiều hoạt động kinh tế diễn ra ngoài tài chính chính thức, các ngân hàng thương mại cố gắng tìm cách tránh sự kiểm soát của ngân hàng trung ương bằng cách tạo ra các sản phẩm mới hoặc các kỹ thuật tài trợ mà nằm ngoài tầm kiểm soát hoặc phạm vi quy định trần lãi suất. Trong thực tế, khi các công cụ này bị các ngân hàng lẩn tránh thì các mục tiêu của chính sách tiền tệ sẽ không thể thực hiện được.
             
-         Kiểm soát lãi suất không có lợi cho cạnh tranh:
Các tổ chức tín dụng kém hiệu quả có thể được bảo vệ từ sức ép của tự do cạnh trnh khiến cho quá trình giải quyết khó khăn của họ tồn tại kéo dài. Những khó khăn lớn gắn với sự kiểm soát lãi suất là vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Những vấn đề này khi trở nên nghiêm trọng, thì các doanh nghiệp lành mạnh và các doanh nghiệp tư nhân mới sẽ bị loại khỏi thị trường tín dụng, bởi vì không sẵn sàng trả mức giá cao như các doanh nghiệp đang gặp khó khăn.
b.     Tại sao phải tự do hoá lãi suất.
Bất kỳ cơ cấu lãi suất dựa trên cơ sở thị trường nào cân bằng được cung cầu tiền tệ và tín dụng trên thị trường tiền tệ và toàn bộ nền kinh tế thì bản thân nó đã là một cơ chế kiểm soát tiền tệ hiệu quả nhất và giảm đáng kể sự cần thiết phải dựa vào bất kỳ công cụ kiểm soát nào khác. Lãi suất do thị trường tự do xác định mang lại những thuận lợi sau:
+  Đảm bảo điều chỉnh tự động và tức thì, do đó giảm rủi ro đối với những sai lầm về chính sách.
+  Truyền tải các tín hiệu chính sách và tác động tới tất cả các bộ phận của nền kinh tế.
+  Đảm bảo việc phân bổ tiền tệ và tín dụng tối ưu trên cơ sở lãi suất, mức độ rủi ro tương đối và lợi nhuận thu được.
+  Đảm bảo nhất quán giữa chính sách tiền tệ, ngân sách và tỷ giá.
+  Làm cho áp lực thị trường tiền tệ thể hiện rõ tức thì.
+  Hỗ trợ và bổ sung cho việc quản lý tỷ giá hối đoái.
+  Làm giảm sự nhạy cảm chính trị đối với những thay đổi lãi suất.
+  Cho phép NHTƯ rút về sau thị trường mà không mất khả năng kiểm soát.
Trên đây là những thuận lợi của lãi suất tự do hoá, song cơ sở lý luận của quá trình tiến hành tự do hoá là nhữg điểm trình bày dưới đây:
+  Ở đây, lãi suất tự do hoá, biến động theo cung cầu thị trường về vốn có   ý nghĩa phân bổ nguồn vốn khan hiếm cho những người vay cạnh tranh nhau, đáp ứng nhu cầu của họ và có hiệu quả nhất; đồng thời có tác dụng thu hút tiền gửi từ các nguồn lực trong nền kinh tế với chi phí hợp lý nhất được cả ngân hàng và người gửi chấp nhận. Có thể nói rằng lập luận phân bổ nguồn vốn hiệu quả là trung tâm của vấn đề. Điều này không thể thực hiện trong điều kiện lãi suất bị kiểm soát hành chính, làm cho các hoạt đọng  đầu tư bị biến dạng. Lãi suất được tự do hoá sẽ linh hoạt hơn so với khi bị kiểm soát, có khả năng điều tiết, thích nghi với điều kiện thay đổi, tạo sự kích thích cho tăng trưởng tài chính, cải tiến và thay đổi cơ cấu mà chính phủ hoặc là không thể quản lý hoặc là chậm thu được kết quả.
+  Tự do hoá lãi suất cũng suất phát từ một thực tế là không một chính phủ hay một NHTƯ nào có đủ khả năng để phân bổ và kiểm soát sự phân bổ nguồn vốn một cách có hiệu quả cho hàng ngàn nhu cầu sử dụng vốn khác nhau. Những tranh cãi về lời giải cho bài toán lãi suất bởi cơ chế kiểm soát lãi suất đặt ra nhu một váan đề không thống nhất được giữa ý kiến của các tầng lớp khác nhau. Để giảm thiểu những tranh luận này, cách tốt nhất là để lãi suất do thị trường quyết định, tức là tự do hoá, tự do hoá lãi suất cũng buộc NHTƯ phải thay đổi cách làm việc, tư duy và đặc biệt là thay đổi các công cụ điều hành chính sách tiền tệ, chủ yếu dựa vào các công cụ gián tiếp để khống chế lãi suất.
+  Trên thế giới đang diễn ra quá trình toà cầu hoá nhanh chóng mà toàn cầu hoá tài chính là điển hình nhất của quá trình này. Trong lĩnh vực kinh tế, theo nhiều nhà kinh tế, thì kẻ thù lớn nhất của chúng ta chính là toàn cầu hoá. Trong quá trình này, nhờ những phát triển vượt bậc của công nghệ và những nỗ lực của các nước đang phát triển cạnh tranh thu hút các nguồn vốn quốc tế, các luồng vốn quốc tế đã chảy từ nước này qua nước khác tự do hơn rất nhiều. Nói chung, lợi ích của toàn cầu hoá là rất lớn mà mỗi quốc gia phải nắm lấy, không thể bỏ qua. Trong lĩnh vực tài chính, toàn cầu cầu hoá đặt ra những cơ hội và thách thức mới, trong đó một thách thức lớn là việc làm xói mòn và giảm hiệu quả của việc kiểm soát tiền tệ bằng các công cụ trực tiếp, như các quy định trần sàn lãi suất; thay vào đó để đảm bảo kiểm soát tiền tệ các nước dần chuyển sang thực hiện công cụ kiểm soát lãi suất gián tiếp như nghiệp vụ thị trường mở, tái chiết khấu, hợp đồng mua lại..., tức là các công cụ định hướng thị trường để đảm bảo hội nhập thành công trong lĩnh vực tài chính, trước hết lãi suất phải được tự do hoá.
+  Tự do hoá lái suất là một bộ phận cơ bản của tự do hoá tài chính. Chủ thuyết Mc Kinnon- Shaw (1973) đã đi tới kết luận là các nước phát đang phát triển cần tránh can thiệp và chỉ đạo trên thị trường tài chính, thực hiện tự do hoá thị trường tài chính để chúng tự phản ứng theo các lực lượng thị trường. Chủ thuyết này phản đối cơ chế kiềm chế tài chính. Theo Mc Kinnon thì cơ chế kiềm chế tài chính được đặc trưng bởi những bóp méo do chính sách trong hệ thống tài chính quốc gia. Những chính sách kiềm chế tài chính bao gồm: quy định trần lãi suất dưới mức lãi suất thị trường, xác định hạn mức tín dụng, quyđịnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao và quản lý vốn để ngăn chặn các đồng tiền ra. Mc Kinnon và Shaw còn giải thích những động cơ để thực hiện các chính sách này là: khuyến khích đầu tư vào khu vực ưu tiên cũng như làm giảm các chi phí tài trợ cho thâm hụt ngân sách.
Biểu hiện của một nền kinh tế có cơ chế kiềm chế tài chính là: huy đọng vốn chủ yếu và sự thiếu hụt vốn; phân bổ vốn không hiệu quả, sự tồn tại của thị trường tài chính phi chính thức. Khi kết luận Shaw nhấn mạnh:” khu vực tài chính của một nền kinh tế có vai trò trong phát triển kinh tế. Nếu nó bị kiềm chế và bó méo, nó có thể ngăn cản và phá hoại những động lực cho sự phát triển.
Như vậy những hạn chế của cơ chế tài chính bị kiềm chế tạo ra những cơ sở cho sự phát triển của cơ chế tài chính mang tính tự do hơn. Tự do hoá cho phép hệ thống ngân hàng tự chủ hơn và điều đó dẫn đến lãi suất tiền gửi và tiền vay cao hơn. Những thay đổi như vậy trong lĩnh vực tài chính sẽ tác động đến các doanh nghiệp và các hộ gia đình, khiến họ thay đổi hành vi tiết kiệm và đàu tư của mình theo hướng có lợi cho tăng trưởng kinh tế. Tăng lãi suất tiền gửi sẽ làm tăng tỷ lệ tiết kiệm nội địa, thay thế được nguồn vốn đi vay nước ngoài  để tài trợ cho đầu tư. Nguồn vốn tiết kiệm được truyền tải qua hệ thống tải qua hệ thống tài chính ngân hàng chính thức , mà không phải  qua thị trường tiền tệ không chính thức. Tiết kiệm trong nước tăng lên và mức lãi suất thực cao làm mở rộng đầu tư và tăng hiệu quả đầu tư.Kết quả tạo ra một tỷ lệ tăng trưởng rộng hơn.
  Quan điểm tự do hoá lãi suất  đối với việc kích thích tiết kiệm nội địa ở trên còn rất nhiều tranh cãi và ý kiến khác nhau.Trong khi đó vai trò của tự do hoá lãi suất mang lại sự cải thiện việc phan bổ tín dụng và cải thiện hiệu quả đầu tư  lại được thống nhất cao. Điều này là rất cơ bản để đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưỏng bền vững.
2.     Những hạn chế của việc tự do hoá lãi suất đối với các nước đang phát triển
Tự do hoá lãi suất là mục tiêu của chính sách tiền tệ,  song với các quốc gia đang phát triển  việc ngay lập tức từ thái cực này - kiềm chế sang thái cực khác - tự do là một việc làm không khả thi. Tự do hoá lãi suất cần có một trình tự bước đi hợp lý , nếu không sẽ gây ra những đổ vỡ to lớn cho nền kinh tế.
Nguyên nhân của việc cần có một bước trung gian là:
Thứ nhất, những thuận lợi do tự do hoá lãi suất mang lại là rất cơ bản , nhưng cũng tồn tại những trường hợp mà ở đó tự do hoá lãi suất không được thực hiện tốt vai trò của mình, như:
(1)   Các nước đang phát triển luôn phải đối mặt với hệ thống tài chính còn kém phát triển  và tình trạng thiếu thông tin về thị trường tài chính , các sản phẩm tài chính. Do đó để tự do hoá lãi suất làm tròn chức năng của mình thì thị trường tài chính cần được củng cố và phát triển. Hơn nữa trong nền kinh tế, thị trường tín dụng không phải lúc nào cũng đủ nhanh để điều chỉnh cân bằng cung cầu thị trường khi điều kiện thay đổi, và tình trạng mất cân bằng vẫn là phổ biến của các nên kinh tế đang phát triển.
(2)   Tự do hoá lãi suất sẽ kém hiệu quả nếu áp đặt vào hệ thống tài chính quá nhiều các mục tiêu quốc gia. ở các nước đang phát triển những chính sách ưu đãi và tạo điều kiện lại luôn cần phải.
Thứ hai, các công cụ kiểm soát tiền tệ gián tiếp như lãi suất tái triết khấu còn chưa có để thay thế cho vai  trò cuả lãi suất trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Do đó, công cụ kiểm soát lãi suất vẫn được coi là một công cụ duy nhất và khả thi để thực hiện chính sách tiền tệ.
Thứ ba, các nước đang phát triển có nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc đủ để chịu những áp lực của việc tự do hoá lãi suất hoàn toàn: chúng có thể làm mất ổn định vĩ mô qua việc tăng lạm phát, nợ nước ngoài và làm suy giảm tăng trưởng kinh tế.
 
II.               KINH NGHIỆM THẾ GIỚI TRONG VIỆC THỰC HIỆN TỰ DO HOÁ LÃI SUẤT.
          Sự ra đời của lý thuyết tự do hoá tài chính mà một trong những nội dung cơ bản là tự do hoá lãi suất đã tạo ra trào lưu tự do hoá lãi suất trên thế giới. Bên cạnh một số nước đã thực hiện thành công như Đài Loan, Singapore, lại có hàng loạt nước đã rơi vào khủng hoảng như Phillipine, Chille, Achentina.....Tuy nhiên,  tự do hoá lãi suất  vẫn là mục tiêu cần đạt tới, không chỉ vì những ưu điểm lý thuyết của nó, mà là tính hiệu quả của các nền kinh tế thị trường phát triển ở đó lãi suất dược tự do hoá .
          Kiểm soát lãi suất rất phổ biến ở hầu hết các nước châu á trước những năm 80. Những hạn chế thường áp đặt dưới dạng quy định trần lãi suất đối với tiền gửi và cho vay của các ngân hàng thương mại ;các tổ chức tài chính phi ngân hàng ít chịu các hạn chế này hơn. Việc áp đặt này là nhằm mục đích cung cấp vốn với chi phí thấp để khuyến khích đầu tư, đặc biệt là những lĩnh vực ưu tiên và để tránh tình trạng lãi suất tăng quá mức, điều được coi là rất khó chấp nhận  về mặt chính trị và xã hội.
          Tuy nhiên, việc kiểm soát như vậy đã làm giảm vai trò trung gian tài chính của các ngân hàng  khi những người tiết kiệm và những nhà đầu tư tìm cách khác ngoài thị trường tài chính chính thức. Do vậy, thị trường ngoài kiểm soát và trung gian phi ngân hàng phát triển mạnh dẫn đến sự kém hiệu quả trong kiểm soát tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. Cơ chế kiềm chế này hạn chế việc chuyển tải vốn tới các hoạt động có hiệu quả nhất, làm méo mó và ngăn cản sự phát triển  của thị trường tài chính. 
          Trong những năm 80-90, các nước châu Á đã thực hiện sự thay đổi quan trọng, bắt đầu thi hành chính sách tự do hoá lãi suất trong chính sách tiền tệ. Tuy vậy, mức độ thành công của các quốc gia khác nhau lại không giống nhau thậm chí gây hiệu quả tiêu cực. Câu trả lời nằm trong cách thức và tiến trình tự do hoá. Đến lượt mình, cách thức và tiến trình tự do hoá lại phụ thuộc vào xuất phát điểm của mỗi nước (mức độ kiểm soát tài chính , đặc điểm và tính chất hệ thống tài chính , khả năng và trình độ quản lý của các cấp quản lý vĩ mô...) , vào điều kiện quốc tế trong tưng giai đoạn tự do hoá ( xu hướng chung về cải cách tài chính, quyền lợi và mâu thuẫn của các cường quốc tài chính , trạng thái tài chính quốc tế như khủng hoảng, suy thoái hay đang phát triển ).
          Kinh nghiệm của các nước cho thấy khi tự do hoá lãi suất trong một môi trường không có kiểm soát cùng với một thị trường tài chính không hoàn hảo và độc quyền, lãi suất thực đã tăng lên mức rất cao. Sự tăng lên như vậy không những không khuyến khích đầu tư và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà còn dẫn đến phá sản của hàng loạt doanh nghiệp, sau đó gây ra khủng hoảng trong hệ thống tài chính, và làm trầm trọng hơn tình trạng bất ổn vĩ  mô. Đồng thời việc loại bỏ kiểm soát cán cân vốn trong bối cảnh kinh tế vĩ mô bất ổn lại làm cho lãi suất tăng lên hơn nữa do có những dự đoán tiếp tục phá giá bản tệ. Giảm giá mạnh bản tệ làm cho các luồng vốn nước ngoài đổ vào nhiều hơn, làm tăng áp lực lạm phát và làm giảm hiệu quả của việc kiểm soát tiền tệ.
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 10.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây:  *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào# Nhấn gửi hoặc phím OK Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ liên lạc với bạn và gửi link tài liệu cho bạn
Tài liệu này không có hình ảnh khác

Tài liệu cùng loại

Tên tài liệu
 Mã tài liệu
 Ngày đăng
 Lượt xem
 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang