Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Đếm Web miễn phí
Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây: *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào#  Bấm phím gọi hoặc phím OK
Chú ý:
- Giữa
Sau khi nhận được tiền tôi sẽ liên lạc với bạn ngay và gửi link tài liệu cho bạn

Những thời cơ và thách thức khi xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU của ngành dệt may Việt Nam

Trong điều kiện tiến bộ khoa học công nghệ và của phân công lao động quốc tế hiện nay, không thể có một nước phát triển bình thường mà không cần sự giao lưu,phân công hợp tác quốc tế. Do vậy, quan hệ kinh tế quốc tế là nhân tố, là biện pháp để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, có hiểu quả. Mặt khác, phát triển công nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế, làm cho đất nước có thể hội nhập vào nền kinh tế thế giới.


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
1134 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 07-01-2013 06:34:51 AM
Mã Tài liệu
QT101
Tổng điểm Đánh giá
0 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU.

I. Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu:

1. Khái niệm và đặc điểm:

a. Khái niệm

Hoạt động xuất khẩu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về nền kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới.
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có một vị trí và vai trò vô cùng to lớn trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi một quốc gia nói chung và công nghiệp nói riêng. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận lớn và là phương tiện thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Nhà nước ta luôn coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu.

 

b. Đặc điểm

  • Xuất khẩu hàng hoá thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và tối ưu các khoa học quản lý kinh tế với các nghệ thuật kinh doanh, giữa nghệ thuật kinh doanh với các yếu tố khác của từng quốc gia như yếu tố luật pháp, kinh tế văn hoá. Hơn nữa, hoạt động xuất khẩu hàng hoá nhằm khai thác lợi thế so sánh của từng nước, khai thác các nguồn lực cho phát triển, góp phần cải thiện đời sống nhân dân gia tăng tiến bộ xã hội và góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập, quốc tế hoá. Lợi thế so sánh đó là các lợi thế về vị trí địa lý, về lao động, về tài nguyên và sở hữu phát minh sáng chế.
  • Trong điều kiện hiện nay, xuất khẩu hàng hoá ở nước ta đang là một trong những mục tiêu cấp bách hàng đầu được chú trọng. Bởi nó đem lại lợi ích vô cùng to lớn cho sự phát triển nước nhà, tạo cho nhiều quốc gia có cơ hội thuận lợi trong việc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế văn hoá xã hội.
  • Hoạt động xuất khẩu hàng hoá diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia khác nhau, ở trong các môi trường và bối cảnh khác nhau. Điều này đòi hỏi chúng ta phải có một trình độ hiểu biết và kinh nghiệm để giao lưu và học hỏi khi xuất khẩu ra nước ngoài. Vì vậy, chúng ta không thể lấy kinh nghiệm trao đổi hàng hoá thông thường trong một quốc gia để áp đặt hoàn toàn cho hoạt động trao đổi hàng hoá với nước ngoài.
  • Hoạt động xuất khẩu  có thể được tiến hành bởi tư nhân hoặc nhà nước. Đối với doanh nghiệp nhà nước thì chính phủ có nhiều mục tiêu khác nhau như chính trị, ngoại giao, văn hoá... Do đó, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, chính phủ có thể hiện hoặc không hoàn toàn hướng về lợi nhuận. Còn đối với doanh nghiệp tư nhân thì mục đích của họ là tối đa hoá lợi nhuận, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho đất nước.

2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu

Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là công cụ, phương tiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Do vậy, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vai trò của xuất khẩu thể hiện ở các mặt sau:
 
  • Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, trong mục tiêu kế hoạch 5 năm 2001-2005 có nói: “ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá...”­­. Như vậy, để làm được điều đó tât yếu phải cần một lượng vốn lớn để thực hiện. Cho nên vốn là một nhân tố không thể thiếu được, là vấn đề sống còn với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bởi vì khi có một lượng vốn lớn chúng ta có thể xây dựng cơ sở hạ tầng, nhập khẩu máy móc thiết bị, kỹ thuật công nghệ sản xuất hiện đại... phục vụ  cho phát triển kinh tế.
Để có được một lượng vốn cho nhập khẩu có thể được hình thành từ nhiều nguồn như: liên doanh đầu tư nước ngoài với nước ta; vay nợ, viện trợ, tài trợ; hoạt động du lịch, dịch vụ; xuất khẩu hàng hoá, lao động... Nhưng vẫn quan trọng hơn cả là xuất khẩu hàng hoá. Bởi vì các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ... tuy quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hoặc cách khác. Ngoại tệ thu được qua các hoạt động du lịch, dịch vụ hiện nay chỉ là rất nhỏ so với nhu  cầu về vốn của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xuất khẩu lao động không ổn định đang có xu hướng giảm dần. Do vậy, nguồn ngoại tệ quan trọng nhất chi dùng cho nhập khẩu chính là từ xuất khẩu.

 
  • Đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển:
Việc coi thị trường và đặc biệt là thị trường quốc tế là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất. Điều này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động đến sản xuất thể  hiện ở chỗ:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi. Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông hoặc thuốc nhuộm.. Mặt khác sẽ kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó.
+ Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và ổn định.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước thông qua việc thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ từ các nước phát triển và Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước tạo ra một năng lực sản xuất mới. 
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với mọi thị trường.
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất và kinh doanh.

 
  • Xuất khẩu có tác động tích  cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân:
Việc xuất khẩu sản phẩm hàng hoá qua các thị trường quốc tế phải cần một lượng lớn nhân công để sản xuất và hoạt động xuất khẩu thu về một lượng ngoại tệ đáng kể để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của nhân dân. Những mặt hàng trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất còn kém như: ô tô, xe máy... do đòi hỏi trình độ và kỹ thuật cao cho nên việc đáp ứng nhu cầu đều qua con đường nhập khẩu đến với người tiêu dùng.
 
  • Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta:
Quan hệ kinh tế đối ngoại bao các hoạt đông giao lưu giữa các nước với nhau. Trong đó xuất khẩu là một hình thức của hoạt động kinh tế đối ngoại. Điều này làm cho hoạt động xuất khẩu cùng với các mối quan hệ kinh tế quốc tế khác làm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt với nền kinh tế thế giới và tham gia vào phân công lao động quốc tế. Chính nhờ thông qua xuất khẩu và các quan hệ đối ngoại khác nhau mà hiện nay nước ta đã thiết lập mối quan hệ thương mại với hơn 140 nước trên thế giới, ký các hiệp định thương mại với hơn 70 nước là thành viên của tổ chức kinh tế của thế giới và khu vực.
 

II. Các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu.

1. Nhân tố kinh tế.

  • Sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ xuất khẩu. Đối tượng của các nhà xuất khẩu là xuất khẩu hàng hoá cho các khách hàng, bạn hàng và các tổ chức kinh tế nước ngoài. Cho nên việc đáp ứng được nhu cầu của họ là một thành công lớn trong hoạt động xuất khẩu. Do vậy đòi hỏi phải có được sản phẩm có vị thế trong lòng người tiêu dùng đặc biệt là người nước ngoài. Yếu tố thị trường cũng tác động không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu. Việc lựa chọn đúng đắn thị trường cho xuất khẩu là một nhân tố đòi hỏi phải tính toán dự báo chính xác thị trường đó phải là thị trường tiềm năng, có triển vọng trong tương lai. Còn yếu tố đối tác cũng không kém phần quan trọng bởi đây là đầu mối để lưu thông sản phẩm xuất khẩu. Cho nên việc lập mối quan hệ tốt hay tìm hiểu kỹ đối tác đem lại lợi ích to lớn cho hoạt động xuất khẩu.
  • Chính sách quốc gia, quốc tế ảnh hưởng to lớn đến hoạt động xuất khẩu. Việc xuất khẩu với số lượng ít hay nhiều phụ thuộc rất lớn vào chính sách quốc gia của từng nước. Khi mối quan hệ kinh tế với các nước đối tác không còn thuận lợi thì sẽ có các chính sách hạn nghạch xuất khẩu làm cho việc xuất khẩu trở nên khó khăn hơn.
  • Hàng hoá xuất khẩu của doanh nghiệp phải chịu rất nhiều sức ép từ các phía. Đầu tiên đó là các sản phẩm cùng loại hay thay thế từ thị trường trong nước. Thứ hai là các sản phẩm của nước mình nhập khẩu vào. Thứ ba là các sản phẩm của các nước khác nhập khẩu vào nước mình nhập khẩu. Như vậy, để tồn tại và phát triển ở nước ngoài, sản phẩm của doanh nghiệp phải được người tiêu dùng chấp nhận và có tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
  • Hàng hoá tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp được thanh toán bằng ngoại tệ có giá trị chuyển đổi. Trong khi đó hạch toán chi phí lại dùng nội tệ do vậy, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu.

2. Nhân tố khoa học và công nghệ

Như đã nói ở trên, việc xuất khẩu hàng hoá sang thị trường ngoài nước đòi hỏi sản phẩm xuất khẩu phải có các đặc tính riêng biệt và có thể cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại trên thị trường nước bạn và của các nước khác nhập vào. Để tạo ra được các tố tính ưu việt, các nhà xuất khẩu không ngừng đổi mới đầu tư thiết bị, khoa học công nghệ cho dây chuyền sản xuất để ngày càng đổi mới sản phẩm, thích nghi với nhu cầu đa dạng phong phú của người tiêu dùng là nước ngoài. Do vậy nhân tố khoa học công nghệ ảnh hưởng quyết định đến mức tiêu thụ sản phẩm hay việc đáp ứng nhu cầu thị trường cả về số lượng và chất lượng.
 

 

3. Nhân tố chính trị, xã hội và quân sự:

Sự ổn định hay không ổn định về chính trị – xã hội cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống chính trị, các quan điểm chính trị, xã hội đều tác động trực tiếp đến phạm vi lĩnh vực, mặt hàng và đối tác kinh doanh. Mặt khác các xung đột lớn hay nhỏ về quân sự trong nội bộ quốc gia và giữa các quốc gia dẫn đến sự thay đổi lớn về các chính sách kinh tế, chính trị, quân sự. Từ đó tạo ra các hàng rào vô hình ngăn cản hoạt độnh kinh doanh quốc tế, đặc biệt là xuất khẩu.
 

4. Nhân tố liên minh, liên kết về kinh tế – chính trị:

Việc mở rộnh ngoại giao, hình thành các khối liên kết kinh tế, chính trị, quân sự góp phần tạo điều kiện thuận lợn cho hoạt độnh kinh doanh buôn bán giữa các quốc gia thành viên. Tăng cường tích cựctiến hành ký kết với các quốc gia ngoài khối những hiệp định, thoả ước để từng bước nới lỏng hàng rào vô hình, tạo điều kiện cho hoạt độnh kinh doanh phát triển và đôi bên cùng có lợi.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 10.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây:  *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào# Nhấn gửi hoặc phím OK Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ liên lạc với bạn và gửi link tài liệu cho bạn
Tài liệu này không có hình ảnh khác
Số ký tự được gõ là 250

Tài liệu cùng loại

Tên tài liệu
 Mã tài liệu
 Ngày đăng
 Lượt xem
 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang