Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Đếm Web miễn phí
Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây: *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào#  Bấm phím gọi hoặc phím OK
Chú ý:
- Giữa
Sau khi nhận được tiền tôi sẽ liên lạc với bạn ngay và gửi link tài liệu cho bạn

Thực trạng và giải pháp hoạt động Marketing dịch vụ vận tải biển của Công ty vận tải Thuỷ Bắc (NOSCO)

Cùng với xu hướng đó, vai trò của hoạt động Marketing ngày càng được khẳng định trên thị trường. Nó giúp cho các đơn vị định hướng hoạt động kinh doanh của mình. Từ việc nghiên cứu thị trường, nhu cầu thị trường đến việc thúc đẩy tiêu thụ tăng doanh số bán và tăng sự thoả mãn khách hàng. Marketing được coi là một trong những bí quyết tạo nên sự thành công của doanh nghiệp và là công cụ cạnh tranh có hiệu quả.


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
950 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 26-11-2012 12:46:38 PM
Mã Tài liệu
MAR53
Tổng điểm Đánh giá
0 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng

CHƯƠNG I

THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI BIỂN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY VẬN TẢI THUỶ BẮC (NOSCO)

 

I. THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI BIỂN.

1. Khái quát vận tải biển.

1.1. Vai trò của vận tải.

Vận tải là một quy trình kỹ thuật của bất cứ sự di chuyển vị trí nào của con người và vật phẩm. Nhưng với ý nghĩa kinh tế thì vận tải chỉ bao gồm những sự di chuyển vị trí của con người và vật phẩm thoả mãn đồng thời hai tính chất: là một hoạt động sản xuất vật chất và là một hoạt động kinh tế độc lập. Vận tải còn là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí của con người và hàng hoá từ nơi này sang nơi khác. Nhờ có vận tải con người đã chinh phục được khoảng cách không gian và đã tạo ra khả năng sử dụng rộng rãi giá trị sử dụng của hàng hoá và thoả mãn nhu cầu đi lại của con người.
Vận tải là yếu tố cần thiết đối với tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất. Vận tải không tách rời quá trình sản xuất của xã hội. Các xí nghiệp, nhà máy là những bộ phận thống nhất của hệ thống kinh tế quốc dân, chỉ có thể tiến hành sản xuất bình thường và thuận lợi trong điều kiện có sự liên hệ mật thiết với nhau thông qua quá trình sản xuất của ngành vận tải. Mối quan hệ giữa vận tải và các ngành kinh tế khác là rất sâu sắc và muôn hình muôn vẻ. Đó là mối quan hệ qua lại, tương hỗ nhau. Vận tải là điều kiện cần thiết của tái sản xuất và các mặt hoạt động khác của xã hội. Ngược lại, kinh tế phát triển tạo ra những tiền đề và đòi hỏi phát triển nhanh chóng ngành vận tải.
Vận tải phục vụ tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội: sản xuất, lưu thông, tiêu dùng và quốc phòng...Trong đó quan trọng nhất là lĩnh vực lưu thông (nội địa và quốc tế). Vận tải đảm bảo chuyên chở nguyên vật liệu, bán thành phẩm từ nơi sản xuất này đến nơi sản xuất khác, đồng thời vận chuyển các thành phẩm công nghiệp, nông nghiệp.

1.2. Đặc điểm của vận tải.

Sản xuất trong vận tải là một quá trình tác động về mặt không gian, chứ không phải là tác động về mặt kỹ thuật vào đối tượng lao động.
Trong vận tải không có đối tượng lao động như các ngành sản xuất vật chất khác, mà chỉ có đối tượng chuyên chở gồm hàng hoá và khách hàng. Con người thông qua phương tiện vận tải (là tư liệu lao động) tác động vào đối tượng chuyên chở để gây ra sự thay đổi vị trí không gian và thời gian của chúng.
- Sản xuất trong vận tải không sáng tạo ra sản phẩm vật chất mới mà sáng tạo ra một sản phẩm đặc biệt, gọi là sản phẩm vận tải. Sản phẩm vận tải là di chuyển vị trí của đối tượng chuyên chở. Bản chất và hiệu quả mong muốn của sản xuất vận tải là thay đổi vị trí chứ không phải làm thay đổi hình dáng, tính chất hoá lý của đối tượng chuyên chở.
- Sản phẩm vận tải không có hình dáng, kích thước cụ thể, không tồn tại độc lập ngoài quá trình sản xuất ra nó. Sản phẩm vận tải không có khoảng cách về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Khi quá trình sản xuất vận tải kết thúc, thì sản phẩm vận tải cũng được tiêu dùng ngay.
- Các ngành sản xuất vật chất khác có thể sản xuất ra một số lượng sản phẩm dự trữ để thoả mãn nhu cầu chuyên chở tăng lên đột xuất hoặc chuyên chở mùa, ngành vận tải phải dự trữ năng lực chuyên chở của công cụ vận tải.
- Tư cách là hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, vận tải không thể tách rời nhu cầu chuyên chở của nền kinh tế quốc dân. Nó góp phần sáng tạo ra một phần đáng kể tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.

1.3. Vận tải biển.

Diện tích của mặt biển chiếm 2/3 tổng diện tích của trái đất. Từ lâu con người đã biết lợi dụng đại dương làm các tuyến đường giao thông để chuyên chở hành khách và hàng hoá giữa các nước với nhau. Vận tải biển xuất hiện rất sớm và phát triển nhanh chóng. Hiện nay vận tải biển là một phương thức vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế.
Vận tải đường biển có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu sau đây:
- Các tuyến đường biển hầu hết là những đường giao thông tự nhiên (trừ việc xây dựng các hải cảng và kênh đào quốc tế). Do đó không đòi hỏi đầu tư nhiều về vốn, nguyên vật liệu, sức lao động để xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho giá thành vận tải đường biển thấp hơn so với các phương thức vận tải khác.
- Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển rất lớn. Nói chung, năng lực chuyên chở của vận tải biển không bị hạn chế như các phương thức vận tải khác. Có thể nói đây là ngành vận chuyển siêu trường, siêu trọng. Trọng tải của tàu biển là rất lớn. Trong những năm gần đây, trọng tải trung bình của tàu biển tăng nhanh và có vẫn đang có xu hướng tăng lên đối với tất cả các nhóm tàu.
- Ưu điểm nổi bật của vận tải đường biển là giá thành rất thấp. Trong chuyên chở hàng hoá giá thành vận tải đường biển chỉ cao hơn giá thành vận tải đường ống. Còn thấp hơn nhiều so với các phương thức vận tải khác. Nguyên nhân chủ yếu là trọng tải tàu biển lớn, cự ly vận chuyển trung bình dài, năng suất lao động cao... Với tiến bộ khoa học kỹ thuật và hoàn thiện cơ chế quản lý, hiệu quả kinh tế của vận tải đường biển ngày càng tăng lên.
Bên cạnh đó, vận tải đường biển có một số nhược điểm:
- Vận tải đường biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Môi
trường hoạt động của thời tiết, thuỷ văn trên biển đều ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình vận tải đường biển. Những rủi ro thiên tai, tai nạn bất ngờ ngoài biển thương gây ra những tổn thất rất lớn cho tàu, hàng hoá và sinh mạng con người mà trong những năm qua con người đã chứng kiến và chịu thiệt hại do tai nạn tàu biển xảy ra.
- Tốc độ của tàu biển còn thấp và việc tăng tốc độ khai thác của tàu biển bị hạn chế. Do đó tốc độ đưa hàng của vận tải đường biển chậm. Vận tải không thích hợp với chuyên chở các loại hàng hoá trong khi có yêu cầu giao hàng nhanh.

1.4. Vị trí vận tải biển ở Việt Nam.

        Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á có 3260 km bờ biển có hàng chục cảng biển lớn nhỏ chạy dài từ Bắc xuống Nam. Bờ biển Việt Nam nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế chạy từ ẤN Độ Dương sang Thái Bình Dương. Mối quan hệ hợp tác kinh tế và buôn bán giữa nước ta với các nước trên thế giới ngày càng mở rộng và phát triển. Do đó, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển vận tải đường biển. Vận tải đường biển của nước ta đang trên đà phát triển theo hướng hiện đại hoá. Đội tàu của chúng ta chưa nhiều, nhưng vận tải đường biển đã đóng góp vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân phục vụ chuyên chở hàng hoá ngoại thương.
       Giữa các cảng biển nước ta với các cảng biển chính của nhiều nước trên thế giới đã hình thành các luồng tàu thường xuyên và tàu chuyến. Trên các luồng tàu này, lực lượng tàu buôn của nước ta và tàu của nước ngoài kinh doanh khai thác. Ngành vận tải đường biển đảm nhận chuyên chở trên 80% tổng khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu ở nước ta cũng như các nước trên thế giới. Vận tải đường biển là ngành chủ chốt so với các phương thức vận tải khai thác để có thể chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu.

2. Nhu cầu vận tải biển ở thị trường Việt Nam.

Thị trường vận tải biển được hình thành bởi cá nhân và tổ chức cung ứng dịch vụ và các cá nhân, tổ chức có nhu cầu vận chuyển hàng hoá. Khai thác sự thuận lợi về vị trí địa lý, và có một hệ thống cảng biển phong phú và đa dạng với hàng chục cảng lớn nhỏ và gần 10  khu vực chuyển tải.   
           Hệ thống cảng biển được xây dựng tại các trung tâm kinh tế như: Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HCM và gần các khu công nghiệp, khu chế suất và khu khai thác, tạo thuận lợi cho quá trình vận chuyển hàng hoá, cung cấp nguyên vật liệu cho các nhà máy, xí nghiệp tạo ra một thị trường vận tải đường biển tiềm năng.
- Đặc điểm nhu cầu vận tải biển.
+ Cầu về hàng vận tải biển là nhu cầu gián tiếp, nó phụ thuộc vào quá trình sản xuất và mức tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Chẳng hạn nhu cầu vận chuyển clinke cho nhà máy xi măng Nghi Sơn nhiều hay ít phụ thuộc vào quá trình dự đoán mức tiêu thụ xi măng trong năm.
        + Nhu cầu về vận tải biển mang đặc tính mùa vụ. Tức là vào một thời gian nhất định trong năm, vận chuyển hàng hoá bằng đường biển sẽ rất lớn. Ví dụ: Vào tháng 3 ® tháng 6 các cơ sở sản xuất giấy có nhu cầu vận chuyển giấy cuộn là rất lớn để sản xuất giấy tập phục vụ cho học sinh - sinh viên vào kỳ học mới. Mùa khô nhu cầu vận chuyển than cũng rất lớn phục vụ cho các nhà máy xí nghiệp sản xuất.
          Năm 2002 các cảng có sản lư­ợng hàng hoá thông qua lớn:
Hải Phòng đạt 9,26 triệu tấn.
Sài Gòn đạt 11,5 triệu tấn.
Tân Cảng đạt 6,2 triệu tấn.
Bến Nghé đạt 3,2 triệu tấn.
Quảng Ninh đạt 3,5 triệu tấn.
Quy Nhơn đạt 2,5 triệu tấn.
Đà Nẵng đạt 2,5 triệu tấn.
Khối cảng trung ­ương quản lý đạt trên 30 triệu tấn.
Trên đây là những số liệu đáng mừng mà các cảng đã đạt đư­ợc và đều vư­ợt mức kế hoạch đã đặt ra. Nhìn chung nhu cầu vận chuyển hàng hoá vẫn giữ đ­ược nhịp độ tăng trư­ởng khá cao đạt khoảng 9,45%. Như­ng với khối lượng hàng hoá vận chuyển trong năm qua thì thị tr­ường vận tải đ­ường biển mới chỉ khai thác đ­ược trên 30,9% khối lượng hàng hoá cần chuyên chở. Trong khi đó, thị tr­ường tiềm năng đư­ợc đánh giá có nhu cầu chuyên chở rất lớn khoảng 80% khối l­ượng hàng hoá xuất nhập khẩu của nư­ớc ta.

3. Những yếu tố chi phối thị trường vận tải biển nước ta.

3.1. Xu hướng kinh tế.

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đẩy mạnh các chính sách đổi mới mở cửa, hội nhập trong khu vực và trên trường quốc tế. Nền kinh tế Việt Nam đang có những khởi sắc. Nhiều chỉ số vĩ mô của nền kinh tế đều đạt và vượt mức kế hoạch, trở thành động lực tăng tốc của nền kinh tế trong năm cũng như trong thời gian tiếp theo. Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) nhận định rằng kinh tế châu Á trong năm 2002 đạt mức tăng trưởng cao, trung bình 6,8%. Cũng theo các báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) các nền kinh tế châu Á, đặc biệt là các nền kinh tế Đông Á có tốc độ tăng trưởng cao hơn 6,8% trong năm 2002 vừa qua.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam tăng trưởng 7,1% điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu phục hồi, bởi tốc độ tăng trưởng 7,1% năm 2002 cao hơn hẳn tốc độ 6.8% năm 2001 và 6,7 % năm 2000. Nếu so với các nước trong khu vực thì tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam tương đối cao đứng thứ 2 Châu Á (sau Trung Quốc 7,5%). GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt khoảng 400 USD/người. 
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 10.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây:  *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào# Nhấn gửi hoặc phím OK Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ liên lạc với bạn và gửi link tài liệu cho bạn
Tài liệu này không có hình ảnh khác

Tài liệu cùng loại

Tên tài liệu
 Mã tài liệu
 Ngày đăng
 Lượt xem
 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang