Dự án chung cư quận hoàng mai, chung cư tam trinh nổi bật.

Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Đếm Web miễn phí
Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây: *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào#  Bấm phím gọi hoặc phím OK
Chú ý:
- Giữa
Sau khi nhận được tiền tôi sẽ liên lạc với bạn ngay và gửi link tài liệu cho bạn

Tổ chức công tác hạch toán vật liệu và công cụ, dụng cụ với việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Dệt 8/3

Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở để tồn tại và phát triển xã hội loài người. Bất kỳ nền sản xuất nào, kể cả nền sản xuất hiện đại đều có đặc trưng chung là sự tác động của con người vào các yếu tố của lực lượng tự nhiên, nhằm thoả mãn những nhu cầu nào đó của con người. Vì vậy, sản xuất luôn là sự tác động qua lại của ba yếu tố cơ bản: lao động của con người, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Do đó, trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, vật tư kỹ thuật đóng một vị trí rất quan trọng.


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
605 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 19-10-2012 02:16:52 PM
Mã Tài liệu
KT221
Tổng điểm Đánh giá
0 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HẠCH TOÁN VẬT LIỆU VÀ CÔNG CỤ, DỤNG CỤ
 
I. Những vấn đề chung về vật liệu và công cụ, dụng cụ
 
1. Khái niệm chung về vật  liệu và công cụ, dụng cụ
 
Trong cơ chế thị trường tự do cạnh tranh, hoạt động của doanh nghiệp phải gắn liền với thị trường. Doanh nghiệp phải căn cứ vào thị trường để giải quyết then chốt vấn đề cái gì? cho ai? chi phí bao nhiêu? và việc phối hợp các yếu tố  một cách tối ưu. Vì quá trình sản xuất của doanh nghiệp chính là sự kết hợp đồng bộ giữa tư liệu với lao động sản xuất để tạo ra sản phẩm. Mặt khác, doanh nghiệp cần phải nắm được các yếu tố đầu vào và tình trạng chi phí sản xuất để tối đa hoá lợi nhuận.
       
Trong quá trình sản xuất sản phẩm, việc phát sinh chi phí là một tất yếu. Hoạt động sản xuất chỉ có thể tiến hành khi có đủ ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Sự tham gia của ba yếu tố này vào quá trình sản xuất, làm hình thành những chi phí tương ứng: chi phí khấu hao tư liệu lao động, chi phí nguyên vật liệu và chi phí tiền lương lao động. Đó chính là ba yếu tố cấu thành giá trị sản phẩm.
     
Quá trình tạo ra giá trị sản phẩm là sự kết hợp, tương tác của ba yếu tố: con người có sức lao động sử dụng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động. Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu là đối tượng lao động, còn công cụ, dụng cụ là một phần của tư liệu lao động, chi phí về nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, và là bộ phận dự trữ quan trọng nhất của xí nghiệp.
 
Khác với TSCĐ vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định, giá trị của nó chuyển hết một lần vào giá trị thành phẩm làm ra. Trong quá trình sản xuất dưới sự tác động của lao động thông qua tư liệu lao động, vật liệu bị tiêu hao hoàn toàn hoặc bị biến đổi hình thái vật chất ban để cấu thành hình thái vật chất của sản phẩm.
     
Công cụ, dụng cụ thuộc vào tư liệu lao động, nhưng nó không đủ tiêu chuẩn (về thời gian và giá trị qui định) là TSCĐ. Tuy vậy, nó vẫn có những đặc điểm tương tự như TSCĐ đó là: có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ nguyên hình thái giá trị vật chất ban đầu đến khi hỏng, nó chỉ bị hao mòn dần và giá trị của nó được chuyển dần vào chi phí sản xuất kinh doanh.
 
Do vật liệu có vai trò quan trọng trong sản xuất, cho nên xí nghiệp cần thiết phải tổ chức tốt việc quản lý và hạch toán các quá trình thu mua, vận chuyển, bảo quản, dự trữ và sử dụng vật liệu. Việc tổ chức tốt công tác hạch toán vật liệu là điều kiện quan trọng không thể thiếu được trong việc quản lý vật liệu, thúc đẩy việc cung cấp kịp thời, đồng bộ, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các định mức dự trữ, tiêu hao vật liệu, ngăn ngừa các hiện tượng hư hao mất mát, lãng phí qua các khâu của quá trình sản xuất. Qua đó góp phần giảm bớt chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, hạ giá thành sản phẩm.
       
Do công cụ, dụng cụ có giá trị nhỏ hao mòn nhanh, chóng hư hỏng, nên đòi hỏi phải thay thế thường xuyên. Cùng với vật liệu, công cụ, dụng cụ trở thành tài sản lưu động (TSLĐ) của doanh nghiệp. Chính những đặc điểm này của công cụ, dụng cụ đã làm cho việc quản lý và hạch toán công cụ, dụng cụ không hoàn toàn giống như hạch toán và quản lý TSCĐ cũng như vật liệu.
     
2. Nhiệm vụ tổ chức quản lý, hạch toán vật liệu và công cụ, dụng cụ
     
2.1.Vật liệu
     
2.1.1 Điều kiện để tổ chức quản lý và hạch toán vật liệu có hiệu quả
 
- Doanh nghiệp phải có đủ hệ thống kho tàng bảo quản, tại kho phải được trang bị đầy đủ các phương tiện bảo quản và dụng cụ cân, đo, đong, đếm.
- Phải có định mức dự trữ vật liệu phù hợp ở mức cần thiết tối đa, tối thiểu. Vật liệu phải được sắp xếp gọn gàng, thuận tiện.
- Về mặt nhân sự, cần có nhân viên bảo vệ và thủ kho phải có nghiệp vụ thích hợp với công việc.
- Cần thực hiện đầy đủ các qui định, lập sổ danh điểm vật liệu, thủ tục lập và luân chuyển chứng từ, mở các sổ sách tổng hợp và chi tiết vật liệu theo chế độ qui định.
- Thực hiện tốt việc kiểm tra, kiểm kê đối với vật liệu, xây dựng chế độ trách nhiệm vật chất công tác quản lý và sử dụng vật liệu.
 
2.1.2 Nhiệm vụ của hạch toán vật liệu
 
- Phải phản ánh chính xác, kịp thời số lượng, chất lượng và trị giá thực tế của vật liệu thu mua nhập kho.Từ đó kiểm tra và giám sát tình hình thực hiện kế hoạch cung ứng vật tư, kỹ thuật phục vụ cho sản xuất và các khoản thu mua khác.
- Tập hợp và phản ánh đầy đủ, chính xác số lượng, giá trị vật liệu xuất kho, vật liệu thực tế tiêu hao cho sản xuất, phân bổ cho các đối tượng sử dụng, góp phần kiểm tra tình hình thực hiện định mức tiêu hao, sử dụng vật liệu.
- Xác định và phản ánh chính xác số lượng và giá trị vật liệu tồn kho, kiểm tra việc chấp hành đúng các định mức dự trữ vật liệu, phát hiện kịp thời nguyên nhân thừa, thiếu, ứ đọng và mất phẩm chất của vật liệu.
 
2.2.  Công cụ, dụng cụ
          
Nhiệm vụ của việc hạch toán công cụ, dụng cụ là:  Phải theo dõi chính xác, kịp thời, đầy đủ tình hình nhập-xuất-tồn về mặt chất lượng, số lượng của từng loại công cụ, dụng cụ. Do đặc điểm của công cụ, dụng cụ cho nên khi xuất dùng, phòng kế toán và đơn vị sử dụng phải mở sổ sách theo dõi cho đến khi hỏng. Đơn vị sử dụng phải phản ánh số lượng, hiện trạng của từng loại theo từng thời điểm, từng người sử dụng.
 
Để thực hiện được mục đích trên, tại các kho của phân xưởng phải mở các sổ, thẻ theo dõi tình hình cho mượn, cho thuê,...Khi công cụ, dụng cụ hỏng phải báo ngay và cùng với công cụ, dụng cụ hỏng mang đến để nhận cái mới.
 
Do khối lượng công cụ, dụng cụ trong một doanh nghiệp không lớn, thường được phân bổ rải rác ở các phân xưởng, văn phòng hành chính. Hơn nữa, để dễ cung cấp, cho nên việc dự trữ và bảo quản không chi tiết như vật liệu. Trên thực tế công cụ, dụng cụ thường được bố trí cùng với kho vật liệu để tận dụng đươc các phương tiện bảo quản của vật liệu.
 
3. Phân loại, tính giá vật liệu và công cụ, dụng cụ
   
3.1. Phân loại vật liệu và công cụ, dụng cụ
 
Vật liệu và công cụ, dụng cụ sử dụng trong xí nghiệp có rất nhiều loại (đặc biệt là vật liệu), cho nên để tổ chức tốt công tác quản lý và hạch toán vật liệu và công cụ, dụng cụ cần thiết phải phân loại.
Phân loại vật liệu và công cụ, dụng cụ là việc xắp xếp các vật liệu và công cụ, dụng cụ cùng loại với nhau nhau theo một đặc trưng nhất định thành từng nhóm.
Trên thực tế, vật liệu thường được phân loại thành từng nhóm theo các tiêu thức khác nhau như: theo công dụng, theo nguồn hình thành, quyền sở hữu....
 
3.1.1 Phân loại theo công dụng và tình hình sử dụng
 
Phân loại vật liệu theo phương pháp này là việc dựa vào công dụng thực tế hoặc vai trò của vật liệu trong sản xuất kinh doanh để sắp xếp vật liệu vào các nhóm khác nhau.
 
- Nhóm1: Nguyên vật liệu chính: Là những loại nguyên, vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh. Vật liệu giữ vai trò chính trong việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ.
- Nhóm 2: Vật liệu  phụ: Là những vật liệu có tác dụng phụ trợ trong quá trình sản xuất kinh doanh, vật liệu phụ kết hợp với vật liệu chính để tăng thêm tính năng, tác dụng của sản phẩm, dịch vụ hoặc phục vụ cho người lao động, hoăc để duy trì hoạt động bình thường của phương tiện lao động.
- Nhóm 3: Nhiên liệu: Là những thứ dùng để cung cấp nhiệt năng như: xăng, dầu, than... Nhiên liệu thực chất là một loại vật liệu phụ, nhưng được tách riêng do vai trò quan trọng của nó, và để nhằm mục đích quản lý và hạch toán tốt hơn.
- Nhóm 4: Phụ tùng thay thế: Bao gồm các chi tiết, cụm chi tiết, hay các bộ phận dùng để thay thế cho TSCĐ khi cần thiết như: bánh xe, săm lốp...
- Nhóm 5: Vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm toàn bộ vật liệu, thiết bị dùng cho mục đích xây dựng cơ bản.
- Nhóm 6: Vật liệu  khác: Là những loại vật liệu ngoài những thứ kể trên như: phế liệu thu hồi, vật tư đặc chủng,...
 
Tuy nhiên, việc phân loại vật liệu chỉ mang tính chất tương đối, các doanh nghiệp có tính chất sản xuất kinh doanh khác nhau thì việc phân loại này sẽ khác nhau. Sử dụng cách phân loại   này, doanh nghiệp có thể theo dõi một cách chính xác và thuận tiện từng loại, từng thứ vật liệu, xác định được tầm quan trọng của từng loại đối với doanh nghiệp. Nó chính là cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm, dịch vụ và mở các tài khoản phù hợp.
      
3.1.2 Một số cách phân loại khác
 
Ngoài cách phân loại vật liệu trên, trên thực tế còn có một số cách phân loại sau:
- Phân loại theo nguồn hình thành: Sử dụng tiêu thức mua ngoài, tự sản xuất, hay nhận cấp phát, góp vốn liên doanh, viện trợ...
- Phân loại theo quyền sở hữu: Sử dụng tiêu thức tự có hay từ bên ngoài...
 
3.2.Tính giá vật liệu và công cụ, dụng cụ
 
Trong các xí nghiệp việc tính giá vật liệu và công cụ, dụng cụ khi nhập, xuất kho là một công việc hết sức cần thiết và quan trọng, vì nó phục vụ cho việc tính đúng, tính đủ chi phí vào giá thành sản phẩm.
 
Vật liệu và công cụ, dụng cụ đều giống nhau trong việc tính giá nhập kho, nó bao gồm: giá mua ghi trên hoá đơn và các chi phí khác như: chi phí thu mua, chế biến... Vật liệu và công cụ, dụng cụ cũng giống nhau trong việc tính giá xuất kho. Chính vì vậy, ta chỉ cần nghiên cứ chi tiết cho vật liệu .
Nguyên tắc cơ bản của kế toán vật liệu là hạch toán theo giá thực tế, tức là giá trị của vật liệu ghi trên sổ sách tổng hợp, trên bảng tổng kết tài sản và báo cáo kế toán khác phải theo giá thực tế.
  
3.2.1 Tính giá nhập kho vật liệu
 
- Với vật liệu mua ngoài:
            Giá thực tế               Giá mua                    Chi phí thu
              vật liệu          =       ghi trên          +         mua thực tế
            nhập kho                  hoá đơn                     phát sinh
Chi phí thu mua thực tế gồm: hao hụt trong định mức, chi phí vận chuyển, bốc rỡ, tiền lưu kho, lưu hàng, lưu bãi, công tác phí của việc thu mua,...
- Với vật liệu thuê ngoài gia công, chế biến:
         Giá thực tế             Giá thực tế             Chi phí thuê          Chi phí
           vật liệu           =    vật liệu xuất    +     ngoài chế        +    liên quan
          nhập kho               kho chế biến               biến                     khác
 
- Với vật liệu tự sản xuất:
               Giá thực tế                     Giá thành
                  vật liệu            =         công xưởng
                 nhập kho                       thực tế
- Với vật liệu nhận góp vốn liên doanh:
          Giá thực tế = giá trị vốn góp do hai bên thoả thuận
- Với vật liệu nhận viện trợ, tặng  thưởng:
          Giá thực tế = giá thị trường tương đương
- Phế liệu thu hồi:       
         Giá thực tế = giá ước tính có thể sử dụng được
 
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 10.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây:  *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào# Nhấn gửi hoặc phím OK Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ liên lạc với bạn và gửi link tài liệu cho bạn
Tài liệu này không có hình ảnh khác

Tài liệu cùng loại

Tên tài liệu
 Mã tài liệu
 Ngày đăng
 Lượt xem
 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang