Dự án chung cư quận hoàng mai, chung cư tam trinh nổi bật.

Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Đếm Web miễn phí
Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây: *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào#  Bấm phím gọi hoặc phím OK
Chú ý:
- Giữa
Sau khi nhận được tiền tôi sẽ liên lạc với bạn ngay và gửi link tài liệu cho bạn

Hoàn thiện công tác kế toán lưu chuyển hàng hoá tại Công ty Phát hành sách Hải Phòng

Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt nam đã chỉ rõ "Phát huy sức mạnh dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa...." (trích Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX). Với mục tiêu xây dựng nước ta trở thành một nước có nền công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước phải xây dựng một đường lối chiến lược đúng đắn , phù hợp với tình hình cụ thể của nước ta .


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
516 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 21-07-2012 03:54:51 PM
Mã Tài liệu
KT086
Tổng điểm Đánh giá
0 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng

            PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN NGHIỆP VỤ LƯU CHUYỂN HÀNG HOÁ TRONG
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

I.     ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ NHIỆM VỤ HẠCH TOÁN

1.     Đặc điểm của hoạt động kinh doanh thương mại.

Hoạt động kinh doanh thương mại là hoạt động lưu thông phân phối hàng hoá trên thị trường buôn bán của từng quốc gia riêng biệt hoặc giữa các quốc gia với nhau, nói một cách cụ thể là hoạt động đó thực hiện quá trình lưu chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng, hoạt động thương mại mang những đặc điểm chủ yếu sau:
–       Lưu chuyển hàng hoá là hoạt động kinh tế cơ bản của kinh doanh thương mại, đó là sự tổng hợp các hoạt động thuộc các quá trình mua bán, trao đổi và dự trữ hàng hoá.
–       Đối tượng kinh doanh thương mại là các loại hàng hoá được phân loại theo từng ngành hàng:
+ Hàng vật tư thiết bị.
+ Hàng công nghệ phẩm tiêu dùng
+ Hàng lương thực, thực phẩm chế biến.
–       Phương thức lưu chuyển hàng hoá của quá trình lưu chuyển hàng hoá thông qua hai phương thức bán buôn và bản lẻ, trong đó: bán buôn là bán hàng hoá cho người kinh doanh trung gian mà không bán thẳng cho người tiêu dùng, bán lẻ là bán thẳng cho người tiêu dùng cuối cùng.
–        Bán buôn và bán lẻ hàng hoá được thực hiện bằng nhiều hình thức bán thẳng, bán qua kho, bán trực tiếp và gửi bán qua đại lý, ký gửi.
–       Tổ chức kinh doanh thương mại có thể theo một trong các mô hình như: tổ chức bán buôn, tổ chức bán lẻ, chuyên doanh hoặc kinh doanh tổng hợp hoặc chuyển môi giới... ở các quy mô tổ chức quầy, cửa hàng, công ty, tổng công ty...

2.     Đặc điểm hạch toán trong doanh nghiệp kinh doanh thương mại.

a. Hoạt động kinh tế chủ yếu của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại là lưu chuyển hàng hoá, do đó công tác kế toán ở các doanh nghiệp thương mại bao gồm 3 phần hành cơ bản:
–       Hạch toán quá trình mua hàng: trong phần hành nay, kế toán của các doanh nghiệp thương mại phải phản ánh được quá trình hình thành vốn hàng hoá.
–        Hạch toán quá trình dự trữ hàng hoá: trong phần hành này, kế toán của các doanh nghiệp thương mại phải theo dõi được tình hình tồn kho của từng loại hàng hoá.
–       Hạch toán quá trình bán hàng: trong phần hành này, kế toán của các doanh nghiệp thương mại phản ánh được quá trình tiêu thụ hàng hoá, xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại.
b. Đặc điểm về tính giá hàng hoá trong kinh doanh thương mại.
Biện pháp thích hợp trong việc quản lý quá trình thu mua tiêu thụ hàng hoá đem lại lợi nhuận cao nhất thì khi hạch toán hàng hoá cần phải tính chính xác giá trị hàng hoá luân chuyển.
Nguyên tắc cơ bản của kế toán lưu chuyển hàng hoá là hạch toán theo giá thực tế, tức là giá trị của hàng hoá phản ảnh trên các sổ kế toán tổng hợp, trên bảng cân đối tài sản và báo cáo tài chính khác phải là giá được tính dựa vào các căn cứ có tính khách quan.
* Tính giá thực tế của hàng hoá nhập kho
Giá thực tế của hàng hoá nhập kho được xác định theo từng nguồn nhập.
–       Đối với hàng hoá mua ngoài nhập kho thì giá thực tế của hàng nhập bao gồm:
+ Giá hoá đơn: giá mua ghi tên hoá đơn (chưa có thuế GTGT)
+ Thuế GTGT đối với các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.
+ Thuế nhập khẩu (nếu có)
+ Các khoản giảm giá được người bán hàng hoá chấp nhận, ghi giảm giá thực tế của hàng nhập kho.
Các khoản chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng ở doanh nghiệp thương mại như chi phí vận chuyển, bốc dỡ, tiền hoa hồng cho đại lý mua... thì không tính vào giá thực tế hàng hoá nhập kho mà được tập hợp riêng và phân bổ thẳng vào giá vốn hàng hoá.
–       Đối với hàng gia công xong nhập kho thì giá thực tế nhập kho là trị giá thực tế xuất kho và chi phí phát sinh trong quá trình gia công như chi phí vận chuyển bốc dỡ, tiền thuê gia công, chi phí nhân viên.
–        Đối với hàng hoá gửi bán, hoặc đã bị khách hàng trả lại nhập kho thì giá thực tế nhập kho là giá trị thực tế đã xác định tại thời điểm bán hoặc gửi bán.
* Tính giá hàng hoá xuất kho.
Nguyên tắc khi hạch toán giữ thực tế của hàng hoá xuất kho phải tính trên cơ sở giá thực tế hàng hoá nhập kho. Tuy nhiên, căn cứ vào đặc điểm hàng hoá luân chuyển của từng doanh nghiệp mà lựa chọn, phương pháp tính giá thích hợp. Các phương pháp thường sử dụng.
–       Nhập trước - xuất trước (FIFO)
–        Nhập sau - xuất trước (LIFO)
–        Bình quân cả kỳ dự trữ
–        Bình quân liên hoãn, hệ số giá...
c. nhiệm vụ hạch toán trong doanh nghiệp kinh doanh thương mại.
Trong kinh doanh thương mại, cần xuất phát từ đặc điểm quan hệ thương mại và vị thế kinh doanh với các bạn hàng để tìm được phương thức giao dịch mua bán thích hợp nhằm đem lại lợi ích lớn nhất cho đơn vị. Do đó, kế toán lưu chuyển hàng hoá nói chung trong các đơn vị thương mại cần thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ để cung cấp thông tin cho người quản lý đưa ra được các quyết định hữu hiệu, đó là:
–       Ghi chép số lượng, chất lượng và giá, phí chi tiêu mua hàng theo chứng từ đã lập trên hệ thống số thích hợp.
–       Phân bổ hợp lý chi phí mua hàng cho lượng hàng đã bán và tồn cuối kỳ.
–        Phản ánh kịp thời khối lượng hàng hoá, ghi nhận doanh thu bán hàng và các chỉ tiêu liên quan khác (giá vốn, doanh thu thuần...) của khối lượng hàng bán.
–        Kế toán quản lý chặt chẽ tình hình biến động và dự trữ kho hàng hoá, phát hiện xử lý kịp thời hàng hoá ứ đọng.
–        Lựa  chọn phương pháp và xác định đúng giá vốn hàng xuất bán để đảm bảo độ chính xác của chỉ tiêu lãi gộp hàng hoá.
–        Xác định kết quả bán hàng và thực hiện chế độ báo cáo hàng hoá và báo cáo bán hàng.
–        Theo dõi và thanh toán kịp thời công nợ với nhà cung cấp và khách hàng.

II.     CÔNG TÁC HẠCH TOÁN LƯU CHUYỂN HÀNG HOÁ

  1.   Phương pháp và tài khoản hạch toán lưu chuyển hàng hoá.

a. Phương pháp hạch toán.
Khi hạch toán kế toán có thể áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên hoặc phương pháp kiểm kê định kỳ.
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng giảm hàng hoá một cách thường xuyên, liên tục trên các tài khoản từng loại hàng tồn kho. Phương pháp này thường được sử dụng ở những doanh nghiệp thương mại kinh doanh ít mặt hàng, có điều kiện kiểm kê chính xác từng nghiệp vụ nhập xuất kho.
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi một cách thường xuyên, liên tục về tình hình biến động của hàng hoá trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định lượng tồn kho thực tế với lượng xuất ra. Phương pháp này thường được sử dụng ở những doanh nghiệp thương mại kinh doanh nhiều mặt hàng hàng hoá hoặc hàng hoá được xuất thường xuyên, không có điều kiện lập chứng từ cho từng lần xuất hàng.
b. Tài khoản sử dụng.
Để phản ánh các nghiệp vụ lưu chuyển hàng hoá trong kinh doanh thương mại, kế toán sử dụng các tài khoản sau:
* Các tài khoản sử dụng chung cho cả phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ.
Thuộc loại này bao gồm các tài khoản không liên quan đến hàng tồn kho mà chỉ liên quan tới doanh thu và kết quả như các tài khoản 511, 512, 521, 531, 532, 641, 642, 1422, 911...
* Các tài khoản chỉ dùng cho phương pháp kê khai thường xuyên.
Đối với các doanh nghiệp thương mại hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, ngoài các tài khoản đã đưa ra ở trên thì kế toán còn sử dụng các tài khoản sau:
–       Tài khoản 156 "Hàng hoá" Dùng để phản ánh giá thực tế hàng hoá tại kho, tại quầy, chi tiết theo từng kho, quầy, từng loại, nhóm... hàng hoá.
Bên Nợ: Phản ánh các nghiệp vụ làm tăng giá thực tế hàng hoá tại kho, tại quầy (giá mua và chi phí thu mua).
Bên Có: + Trị giá mua thực tế của hàng xuất kho, xuất quầy.
              + Phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ dư Nợ: Trị giá thực tế hàng hoá tồn kho, tồn quầy.
 Tài khoản 156 chi tiết thành:
+ Tài khoản 1561: Giá mua hàng hoá
+ Tài khoản 1562: Chi phí thu mua hàng hoá.
–       Tài khoản 157 "Hàng gửi bán": Phản ánh giá trị mua hàng của hàng gửi bán, ký gửi, đại lý chưa được chấp nhận. Tài khoản này được mở chi tiết theo từng loại hàng, từng lần gửi hàng từ khi gửi đi đến khi được chấp nhận thanh toán.
Bên Nợ: Phản ánh trị giá thực tế của hàng hoá đã chuyển bán hoặc giao cho bên nhận đại lý, ký gửi.
Bên Có: Trị giá hàng hoá đã được khách hàng chấp nhận thanh toán hoặc đã thanh toán.
Dư Nợ: Trị giá hàng hoá đã gửi đi nhưng chưa được khách hàng chấp nhận thanh toán.
–       Tài khoản 151 "Hàng mua đang đi trên đường": Dùng để phản ánh trị giá thực tế hàng mua đang đi đường tài khoản này được mở chi tiết theo từng chủng loại và từng hợp đồng kinh tế.
Bên Nợ: Giá mua theo hoá đơn đã nhận chưa có hàng và phí tổn kèm theo.
Bên Có: Giá mua theo hoá đơn của số hàng đã kiểm nhận kho, hoặc đã giao nhận thẳng cho khách hàng mua.
Dư Nợ: Hàng mua đang trên đường.
- Tài khoản 632 "Giá vốn hàng hoá: Phản ánh trị giá vốn hàng đã tiêu thụ trong kỳ bao gồm trị giá mua cửa hàng tiêu thụ và phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ. Tài khoản này cuối kỳ không có số dư.
Bên Nợ: Tập hợp trị giá mua và phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ trong kỳ.
Bên Có: + kết chuyển giá vốn hàng tiêu thụ trong kỳ (giá thực tế)
              + Trị giá mua cửa hàng đã tiêu thụ bị trả lại trong kỳ.
* Các tài khoản chỉ sử dụng cho phương pháp kiểm kê định kỳ.
Đối với các doanh nghiệp thương mại hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ, ngoài các tài khoản chung đã đưa ra ở trên thì kế toán còn sử dụng những tài khoản sau:
- Tài khoản 611 (6112) "Mua hàng hoá": Tài khoản này phản ánh trị giá hàng hoá mua vào theo giá thực tế và được mở chi tiết theo từng thứ, từng kho, quầy hàng hoá. Tài khoản 6112 cuối kỳ không có số dư.
Bên Nợ: Trị giá thực tế hàng hoá chưa tiêu thụ đầu kỳ và tăng thêm trong kỳ do các nguyên nhân (mua vào, nhận cấp phát, nhận vốn góp...)
Bên Có: + Giảm giá hàng mua và hàng mua trả lại.
              + Trị giá vốn hàng tiêu thụ trong kỳ còn lại chưa tiêu thụ cuối kỳ.
–       Tài khoản 156 "Hàng hoá": Phản ánh trị giá hàng hoá tồn kho, tồn quầy, chi tiết theo từng thứ, từng loại, từng nơi.
Bên Nợ: Trị giá hàng tồn kho, tồn quầy cuối kỳ.
Bên Có: Kết chuyển trị giá hàng tồn kho, tồn quầy đầu kỳ.
Dư Nợ: Trị giá hàng tồn kho, tồn quầy 
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 10.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây:  *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào# Nhấn gửi hoặc phím OK Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ liên lạc với bạn và gửi link tài liệu cho bạn
Tài liệu này không có hình ảnh khác

Tài liệu cùng loại

Tên tài liệu
 Mã tài liệu
 Ngày đăng
 Lượt xem
 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang