Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Đếm Web miễn phí
Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây: *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào#  Bấm phím gọi hoặc phím OK
Chú ý:
- Giữa
Sau khi nhận được tiền tôi sẽ liên lạc với bạn ngay và gửi link tài liệu cho bạn

Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nies vào Việt Nam

Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay đang diễn ra trên quy mô toàn cầu với khối lượng và nhịp độ chu chuyển ngày càng lớn. Bên cạnh việc phát huy nguồn lực trong nước, tận dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một sự thông minh để rút ngắn thời gian tích lũy vốn ban đầu, tạo nên tiền đề vững chắc, cho phát triển kinh tế, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển. Chính vì lẽ đó mà FDI được coi như “chiếc chìa khóa vàng” để mở ra cánh cửa thịnh vượng cho các quốc gia. Việt Nam cũng không thể đứng ngoài trước luồng xoáy của sự vận động kinh tế thế giới đang diễn ra từng ngày, từng giờ này. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1987 đánh dấu bước khởi đầu quá trình mở cửa nền kinh tế, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, kết hợp chặt chẽ việc phát huy có hiệu quả các nguồn lực trong nước với việc thu hút tối đa các nguồn lực bên ngoài cho chiến lược phát triển kinh tế. Trong những năm gần đây, tốc độ thu hút FDI của Việt Nam đã giảm xuống một cách đáng lo ngại, một trong những nguyên nhân cơ bản của hiện tượng này là cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực đã làm cho tốc độ đầu tư của các nước NIEs Đông Á vào Việt Nam giảm xuống đáng kể. Ngay từ những năm đầu của quá trình thực hiện thu hút FDI, các nước và lãnh thổ NIEs là những đối tác đầu tư mạnh nhất cả về số dự án đầu tư cũng như về quy mô vốn đầu tư trong số 72 nước lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Sự giảm sút đầu tư trực tiếp của NIEs đã có tác động xấu đến quá trình thu hút và sử dụng vốn FDI tại Việt Nam, năm 2002 các nền kinh tế nói chung đã phần nào phục hồi trở lại, do đó Việt Nam cần phải có các giải pháp để tiếp tục thu hút đầu tư nhiều hơn nữa của các nước này.


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
2150 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 09-04-2013 02:10:35 PM
Mã Tài liệu
DT24
Tổng điểm Đánh giá
0 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
I. Đầu tư và đầu tư nước ngoài.
1. Khái niệm.
Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại được hiểu rẩt khác nhau. Có người cho rằng đầu tư là phải bỏ một cái gì đó vào một việc nhất định để thu lại một lợi ích trong tương lai. Nhưng cũng có người lại quan niệm đầu tư là các hoạt động sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận. Thậm chí thuật ngữ này thường được sử dụng rộng rãi, như câu cửa miệng để nói lên chi phí về thời gian, sức lực và tiền bạc vào mọi hoạt động của con người trong cuộc sống.
Vậy đầu tư theo đúng nghĩa của nó là gì? Những đặc trưng nào quyết định một hoạt động được gọi là đầu tư? Mặc dù vẫn còn có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về đầu tư được nhiều người thừa nhận, đó là “đầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai, … vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận”. Người bỏ ra một số lượng tài sản được gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư. Chủ đầu tư có thể là các tổ chức, cá nhân và cũng có thể là nhà nước.
Có hai đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là đầu tư hay không, đó là: tính sinh lãi và độ rủi ro của công cuộc đầu tư. Thực vậy, người ta không thể bỏ ra một lượng tài sản mà lại không dự tính thu được giá trị cao hơn giá trị ban đầu. Tuy nhiên, nếu mọi hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội thì ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuộc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất – xã hội phát triển.
Qua hai đặc trưng trên cho thấy, rõ ràng mục đích của hoạt động đầu tư là lợi nhuận. Vì thế, cần hiểu rằng bất kỳ sự chi phí nào về thời gian, sức lực và tiền bạc vào một hoạt động nào đó mà không có mục đích thu lợi nhuận thì không thuộc về khái niệm về đầu tư.
2. Đầu tư nước ngoài.
2.1. Khái niệm: Đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu.
2.2. Các hình thức đầu tư nước ngoài.
a. Theo tính chất quản lý: Đầu tư trực tiếp (FDI-Foreign Direct Investment) và đầu tư gián tiếp (PFI-Portfolio Foreign Investment).
Đầu tư gián tiếp thường do Chính phủ các nước, tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ của một nước cho một nước khác (thường là nước đang phát triển) vay vốn dưới nhiều hình thức viện trợ hoàn lại và không hoàn lại. Theo loại hình này bên nhận vốn có toàn quyền quyết định việc sử dụng vốn như thế nào để đạt được kết quả cao nhất, còn bên cho vay hoặc viện trợ không chịu rủi ro và hiệu quả vốn vay. Loại hình đầu tư này thường kèm theo điều kiện ràng buộc về kinh tế hay chính trị cho nước nhận vốn. Do vậy hình thức đầu tư này không chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đầu tư quốc tế, nó thường chỉ dùng cho các nước đang phát triển có nhu cầu cấp thiết về vốn.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà trong đó các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư sang nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quá trình sử dụng và thu hồi số vốn đầu tư bỏ ra.
FDI được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: đầu tư mới (greenfield investment-GI) và mua lại&sát nhập (Mergers and Acquisitions-M&A). Đầu tư mới là các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh đầu tư chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển. Ngược lại, không giống như GI, M&A là các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh đầu tư này được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần đây. Ở Việt Nam, FDI được chủ yếu thực hiện theo kênh GI.
FDI nói chung là việc các thương gia đưa vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý ra nước ngoài và khống chế nguồn vốn đầu tư trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh theo lĩnh vực đầu tư đó. Xuất phát từ nhu cầu truy tìm lợi nhuận cao và giành được tiếng nói hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư tiến hành đầu tư sang nước khác mà ở đó tập trung nhiều điều kiện thuận lợi hơn so với việc đầu tư trong nước như tranh đoạt thị trường ở nước sở tại, tranh thủ các ưu đãi về đầu tư, tận dụng nguồn nhân công rẻ, khai thác tài nguyên thiên nhiên… từ đó tối đa hóa lợi nhuận trên cùng một đồng vốn bỏ ra. Đối với các nước đang phát triển thì vấn đề vốn là hết sức cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, trong khi đó việc huy động nguồn vốn trong nước không phải là dễ dàng, lại càng không thể chỉ dựa vào sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên để tiến hành tích lũy tư bản, do đó vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói chỉ được phá vỡ khi các nước này mở của để thu hút đầu tư nước ngoài.
FDI được xem là chất xúc tác không thể thiếu nhằm làm cho nền kinh tế có được sự tăng trưởng cao. Tuy nhiên, việc thu hút FDI sẽ gặp không ít khó khăn khi các nước đang phát triển có cơ sở hạ tầng còn yếu kém, luật pháp còn nhiều cản trở … Do đó các quốc gia sẽ phải cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng hơn nữa tạo sự hấp dẫn hơn nữa để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 10.000đ và soạn tin nhắn theo cú pháp sau đây:  *103*0988441615*Mã_Thẻ_Cào# Nhấn gửi hoặc phím OK Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ liên lạc với bạn và gửi link tài liệu cho bạn
Tài liệu này không có hình ảnh khác
Số ký tự được gõ là 250

Tài liệu cùng loại

 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang