Chuyên cung cấp tài liệu


Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và gửi mã thẻ cào cùng với địa chỉ Email của bạn và mã tài liệu DA070 đến số điện thoại sau đây: 0988.44.1615  

Sau khi nhận được thông tin tôi sẽ gửi tài liệu vào mail cho bạn ngay và thông báo cho bạn biết

Những vấn đề cơ bản về kiểm toán

Để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, nhằm tăng cường sự kiểm soát của nhà nước trong việc quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản quốc gia, Chính phủ đã ban hành nghị định số 70/CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 tạo lập cơ sở pháp lý cho kiểm toán nhà nước ra đời. Việc ra đời của kiểm toán nhà nước là tất yếu, là sản phẩm của quá trình đổi mới, quá trình công nghiệp hiện đại hoá đất nước Việt Nam hiện nay, và kiểm toán ngày càng tự khẳng định được vai trò của mình trong việc xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực.


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
2823 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 19-06-2012 03:10:59 PM
Mã Tài liệu
DA070
Tổng điểm Đánh giá
0 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng
NỘI DUNG
 
1.       Đối tượng kiểm toán.
1.1.    Đối tượng kiểm toán và khách thể kiểm toán.
        Phù hợp với tính tất yếu của lịch sử và logic biện chứng, kiểm toán phải được hình thành một khoa học độc lập, kiểm toán cần phải có đối tượng riêng và hệ thống những thông tin phản ánh thực chất hoạt động và phương pháp riêng. Đối tượng kiểm toán là thực trạng tài chính cùng hiệu quả hiệu năng của các nghiệp vụ hay dự án cụ thể. Cả thực trạng hoạt động tài chính cũng như hiệu năng, hiệu quả phải được thể hiện trong một đơn vi cụ thể ( doanh nghiệp, xí nghiệp công cộng, đơn vị sự nghiệp, cơ quan kinh tế và hành chính) hoặc một dự án một công trình cụ thể. Trong quan hệ chủ sở hữu, các đơn vị đó thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân hoặc hỗn hợp. Trong quan hệ phạm vi một quốc gia, các đơn vị này có thể hình thành từ nguồn đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh trong và ngoài nước… Tổng hợp các tiêu thức trên có thể phân chia các đơn vị thành các khách thể kiểm toán trong quan hệ với chủ thể kiểm toán. Thông thường, khách thể kiểm toán được phân chia trong quan hệ với chủ thể kiểm toán như sau:
+)     Khách thể kiểm toán nhà nước thường bao gồm tất cả các đơn vị, cá nhân có sử dụng nguồn ngân sách nhà nước như:
-         Các dự án, công trình do ngân sách đầu tư.
-         Các doanh nghiệp nhà nước có 100% vốn ngân sách nhà nước.
-         Các xí nghiệp công cộng thuộc sở hữu nhà nước( 100% vốn NSNN).
-         Các cơ quan kinh tế, quản lý của nhà nước và các đoàn thể xã hội.
-         Các cá nhân (tài khoản cá nhân) có nguồn từ NSNN…
+)     Khách thể của kiểm toán độc lập thường bao gồm:
-         Các doanh nghiệp và xí nghiệp tư (kể cả các công ty trách nhiệm hữu hạn).
-         Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài.
-         Các liên doanh các tổ chức trong và ngoài nước.
-         Các hợp tác xã và doanh nghiệp cổ phần.
-         Các chương trình, dự án có nguồn kinh phí từ bên ngoài ngân sách nhà nước…
+)     Khách thể của kiểm toán nội bộ có thể bao gồm:
-         Các bộ phận cấu thành đơn vị.
-         Các hoạt động, các chương trình, dự án cụ thể trong đơn vị.
-         Các cá nhân trong đơn vị.
      Như vậy, khách thể của kiểm toán có thể là đơn vị kế toán như các xí nghiệp, các đơn vị sự nghiệp hoặc quản lý hay cá nhân… Song khách thể của kiểm toán cũng có thể là một công trình hay dự án… với sự tham gia của nhiều đơn vị kế toán hoặc một bộ phận của một đơn vị nào đó.
      Tất nhiên, việc phân chia các khách thể trong quan hệ với chủ thể kiểm toán chỉ là những nguyên tắc và nghệ thuật tổ chức kiểm toán. Trong khi đó, đối tượng kiểm toán lại không thể phân cho từng khách thể riêng biệt. Đó là đối tượng chung của kiểm toán. Tuỳ thuộc mục tiêu đặt ra cho từng cuộc kiểm toán của từng khách thể để xác định đối tượng trực tiếp và gián tiếp cho cuộc kiểm toán đó.
      Mặt khác, do tính nghệ thuật của tổ chức kiểm toán nên trong thực tế, các chủ thể kiểm toán không nhất thiết bắt buộc kiểm toán tất cả các khách thể của mình: tuỳ nhu cầu quản lý, khả năng kiểm toán và các quan hệ xã hội khác, luật pháp có quy định cụ thể khách thể phải được kiểm toán. Chẳng hạn, khách thể của kiểm toán nhà nước còn tuỳ thuộc vào khả năng thực hiện kiểm toán hàng năm (thề hiện qua kế hoạch kiểm toán), tuỳ thuộc vào hệ thống bộ máy quản lý và bộ máy kiểm toán… Theo đó ngân sách các địa phương có thể thuộc các khách thể cụ thể khác nhau theo quy định của luật pháp và theo đó có thể một số tài khoản của cá nhân hoặc tổ chức đặc biệt không được kiểm toán…, Khách thể của kiểm toán độc lập thường được quy định cụ thể gắn với mức doanh số hoặc lợi tức đạt được của từng khách thể.
      Ngoài ra khách thể được pháp luật quy định thuộc chủ thể kiểm toán này cũng có thể tự nguyện mời chủ thể kiểm toán khác song không thay thế cho kiểm toán đã được luật pháp quy định.
      Ở nước ta, khách thể kiểm toán nhà nước được quy định cụ thể trong điều 2 của “ Điều lệ tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước” (Ban hành theo Quyết định 61/TTG ngày 24/1/1995 của Thủ tướng Chính phủ). Trong quy định này, giữa khách thể và đối tượng cụ thể của kiểm toán đã được gắn chặt với nhau để đảm bảo tính chặt chẽ của văn bản quy định.
      Khách thể bắt buộc của kiểm toán độc lập ở nước ta xác định trong các văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài ( Luật đầu tư nước ngoài và nghị định 12/CP ngày 18 tháng 12 năm 1997 của Chính phủ ); các doanh nghiệp nhà nước đang tiến hành cổ phần hoá được kiểm toán 3 năm liên tục (Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 1998 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần); các công ty cổ phần được niêm yết trên thị trường chứng khoán (Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/ 1998 của chính phủ về chứng khoán và thị trường chưng khoán); các tổ chức tín dụng (Quyết định số 322/1998/QĐ-NHNN ngày 14/09/99 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế thực hiện kiểm toán độc lập đối với các tổ chức tín dụng)... Như vậy khách thể bắt buộc của kiểm toán độc lập ở Việt nam còn khá hạn hẹp so với các nước trên thế giới do khả năng của kiểm toán độc lập còn có những giới hạn nhất định và các doanh nghiệp thuộc khách thể này mới được hình thành và nói chung còn ở quy mô nhỏ. Với đà phát triển của kiểm toán như hiện nay, đối tượng này sẽ được mở rộng trong những năm tới.
      Trong mỗi lần kiểm toán, một chủ thể kiểm toán được gắn với một khách thể kiểm toán để thực hiện một nhiệm vụ xác định được gọi là một cuộc kiểm toán. Như vậy, khái niệm “Cuộc kiểm toán” trong thực tế đã bao gồm các yếu tố xác định:
-         Đối tượng kiểm toán cụ thể.
-         Chủ thể kiểm toán xác định.
-         Khách thể kiểm toán tương ứng.
-         Thời hạn kiểm toán cụ thể.
-         Cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán.
1.2.      Các yếu tố cấu thành đối tượng kiểm toán.
1.2.1.   Tài liệu kế toán.
a.      Khái niệm.
     Tài liệu kế toán là toàn bộ các chứng từ sổ sách kế toán, báo cáo kế toán, bảng biểu kế toán.
     Tài liệu kế toán, trước hết là báo cáo tài chính là đối tượng trực tiếp được mọi người quan tâm , nên tài liệu này là đối tượng trực tiếp và thường xuyên của mọi cuộc kiểm toán. Điều đó được lý giải trước hết ở tài liệu kế toán, đặc biệt là báo cáo tài chính vì trong cơ chế thị trường, có nhiều người quan tâm đến thông tin tổng hợp và thực trạng tài chính của đơn vị. Trong cơ chế này, tài liệu kế toán không chỉ là cơ sở để tổng hợp các chỉ tiêu ở phạm vi rộng hơn, cũng không chỉ để kiểm tra, lưu trữ tài liệu và bảo quản tài sản mà là cơ sở cho mọi người quan tâm ra quyết định về quản lý, về đầu tư, về thanh toán, về phân phối,... Mặt khác, trong cơ chế thị trường với tự do cạnh tranh, rủi ro trong kinh doanh, trong đầu tư lớn. Trong điều kiện đó, số lượng người quan tâm đến tài liệu kế toán cũng tăng lên, song quan trọng là họ quan tâm đến chất lượng của tài liệu kế toán cũng cao hơn... Ngoài ra cũng phải kể đến tính phức tạp của quá trình xử lý thông tin kế toán cũng như kết cấu của các báo cáo tài chính. Hậu quả của tình trạng này không phải mọi người quan tâm đều am hiểu được tài liệu đó mà đôi khi chính kế toán viên cũng gặp khó khăn trong việc phản ánh các quan hệ phức tạp, đặc biệt là những quan hệ mới phát sinh. Ngay cả nội dung và phương pháp tính một khoản mục trên các bảng cân đối kế toán cũng có thể rất nhiều quan niệm khác nhau và mang lại kết quả khác nhau. Tính phức tạp này ngày càng tăng lên do quy mô của các khách thể kiểm tóan không ngừng mở rộng và do tính phức tạp của đối tượng kế toán, các hoạt động tài chính ngày càng tăng lên, nhiều bên tham gia với các phương thức khác nhau, nhiều quan hệ kinh tế mới phát sinh thâm nhập vào hoạt động tài chính.
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại  VietTel mệnh giá 20.000đ sau đó gửi mã số thẻ cào cùng địa chỉ email của bạn và mã tài liệu DA070 đến số điện thoại: 0988.44.1615 Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ gửi tài liệu cho bạn và thông báo cho bạn biết
Tài liệu này không có hình ảnh khác

Tài liệu cùng loại

 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang