Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Bộ đếm miễn phí
Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và gửi mã thẻ cào cùng với địa chỉ Email của bạn và mã tài liệu T128 đến số điện thoại sau đây: 0988.44.1615  

Sau khi nhận được thông tin tôi sẽ gửi tài liệu vào mail cho bạn ngay và thông báo cho bạn biết

Mối quan hệ biện chứng giữa các thành phần kinh tế ở Việt Nam

Phát triển quan điểm kinh tế của Đại hội VI, Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương đã khẳng định phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Việc chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần chính là để giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Không thể có các thành tựu kinh tế như vừa qua nếu không thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần. Vì thế phát triển kinh tế nhiều thành phần, mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp của bên ngoài là chiến lược đúng đắn.


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
3856 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 08-05-2012 03:29:00 PM
Mã Tài liệu
T128
Tổng điểm Đánh giá
9 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng

I/ NỘI DUNG  CỦA QUY LUẬT MÂU THUẪN PHÉP BIỆN CHỨNG

Quy luật mâu thuẫn là một trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật và  là hạt nhân của phép biện chứng. Nội dung của quy luật chỉ  ra cho chúng ta thấy nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
Quan điểm  siêu hình cho rằng sự vật là một thể đồng nhất tuyệt đối,   chúng không có mâu thuẫn bên trong. Thực chất của quan điểm này là phủ nhận mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Còn quan điểm của chủ nghĩa duy vật cho rằng sự vật, hiện tượng luôn luôn có mâu thuẫn  bên trong và mâu thuẫn là hiện tượng khách quan chủ yếu bởi vì sự vật hiện tượng của thế giới khách quan đều được tạo thành từ nhiều yếu tố, nhiều bộ  phận, nhiều quá trình  khác nhau. Giữa chúng có mối liên hệ, tác động lẫn nhau   trong đó sẽ có những liên hệ trái ngược nhau,  gọi là  các mặt  đối lập tạo thành mâu thuẫn của sự vật. Các mặt  đối lập thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau gây nên một biến đổi nhất định, làm cho sự  vật vận động phát triển.
Các mặt đối lập là những  mặt có xu hướng phát triển trái ngược nhau nhưng chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau  trong một chỉnh thể duy nhất là sự vật. Quan hệ đó thể hiện các mặt vừa thống nhất vừa tiêu diệt nhau. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập là sư lương tựa, rằng buộc, phụ thuộc lẫn nhau làm tiền đề để tồn tại và phát triển cho nhau,  có mặt này mới có  mặt kia. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự  bài trừ gạn bỏ, phủ định lẫn nhau giữa chúng. Hai mặt đối lập cùng tồn tại trong một thể thống nhất, chúng thường xuyên muốn tiêu diệt lẫn nhau. Đó là một tất yếu khách quan không tách rời  sự thống nhất  giữa chúng.
Quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh là hai mặt  đối lập tồn tại không tách rời nhau. Sự thống nhất giữa các mặt chỉ diễn ra trong những điều kiện nhất định  với một thời gian  xác định. Bất cứ sự thống nhất   nào cũng diễn ra  sự đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho nó luôn luôn có xu hướng chuyển thành cái khác. Còn đấu tranh diễn ra từ khi  thể thống nhất  xác lập  cho đến khi   nó bị phá vỡ để chuyển thành mới. Đấu tranh giữa các mặt đối lập diễn ra trải qua nhiều giai đoạn với  nhiều hình thức khác nhau, từ khác biệt đến đối lập, từ đối lập đến xung đột, từ  xung đột đến mâu thuẫn.
Đến đây nếu có đủ điều kiện thích hợp  thì nó diễn ra sự chuyển hoá cuối cùng giữa các mặt đối lập. Cả hai đều có sự thay đổi về chất, cùng phát triển đến một  trình độ cao hơn. Từ đó mâu thuẫn được giải quyết sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ và quá trình lại tiếp tục.
Vì thế đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trong  của sự phát triển.

II. TÍNH TẤT YẾU CỦA NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN

Trong thời kỳ  quá độ còn tồn tại nhiều thành phần  kinh tế do lịch sử  để lại và còn có lợi cho sự phát triển kinh tế CNXH: Kinh tế tư bản tư nhân,  kinh tế  cá thể.
Thực tế ở Việt Nam, thành phần kinh tế tư nhân đã có đóng  góp ngày càng  tăng vào tổng sản phẩm trong nước (GDP) từ đầu thập niên đến nay. Nếu tính  toàn  bộ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói chung, đóng góp của khu vực này qua các năm như sau (theo giá năm 1989):
                                                                              
1990 1991 1992 1993 1994
19.856 20.755 22.201 23.623 25.224
(Tỉ đồng)
Cao hơn so  với thành phần kinh tế quốc doanh   lần lượt là: 10.186  tỷ; 10.224 tỷ; 10.411tỷ; 10.511 tỷ; 10.466 tỷ. Tỷ lệ đóng góp  vào ngân sách    qua thuế công thương nghiệp, dịch vụ của kinh tế ngoài quốc doanh   so với GDP cũng tăng liên tục từ năm 1991 đến 1994: 3,8%; 5,2%; 6,3%; và 5,5%. Thành phần kinh tế cá thể  có  khả năng  đóng góp nhiều lợi ích  cho xã hội như tiền vốn, sức lao động, kinh nghiệm, truyền thống sản xuất. Nó      có phạm vi hoạt động rộng trong phạm vi cả nước,  có mặt các vùng kinh tế, sản xuất trong nhiều lĩnh vực. Trong quá trình   cải tạo XHCN nền kinh tế cũ, nảy sinh những thành phần kinh tế mới: Kinh tế tư bản  Nhà nước, các loại kinh tế HTX. Trong  quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế mới, vẫn còn bị ảnh hưởng những khuyết tật của cơ chế cũ,  cơ chế tập chung quan liêu bao cấp đã phủ định những mâu thuẫn vốn có của nền kinh tế quá độ. Sự mâu thuẫn   giai cấp trong  xã hội tuy   không gay gắt nhưng cũng có   những hạn chế nhất định đối với sự phát triển của xã hội. Mâu thuẫn  giai cấp là một tất yếu, khách  quan của bất kỳ một xã hội nào và mâu thuẫn chính là cơ sở cho sự phát triển của   xã hội đó.  ở nước ta, bên cạnh mâu thuẫn giai cấp còn có  mâu thuẫn  chế độ sở  hữu. Mấy năm trước đây đã ồ ạt xoá bỏ chế độ tư hữu,  xác lập chế độ công hữu về  tư liệu sản xuất dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Đại hội lần thứ VI của Đảng đã phát hiện và kiên quyêts  thông qua đổi mới để khắc phục sai lầm đó, bằng cách thừa nhận vai trò của sự tồn tại  của hình thức tư hữu trong  tính đa dạng các hình thức sở hữu. Cần gắn với  sở hữu với lợi ích  kinh tế vì  lợi ích kinh tế là bản chất kinh tế của xã hội. Nước ta quá độ lên CHXN, bỏ qua chế độ Tư bản, từ một nước xã hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến,  lực lượng sản xuất rất thấp. Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề, kinh tế   nông nghiệp kém phát triển. Bên cạnh những nước XHCN đã đạt  được những thành tựu  to lớn  về nhiều mặt, đã từng là chỗ dựa cho phong trào hoà bình  và cách mạng thế giới, cho việc    đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, góp phần quan trọng vào cuộc  đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ  xã hội vẫn còn là một nước XHCN lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Vì thế mâu thuẫn  giữa CHXH và CNTB đang diễn ra gay gắt. Trước  mắt CNTB còn có tiềm năng   phát triển kinh tế nhờ ứng dụng những thành tựu đổi mới khoa học công nghệ, cải tiến  phương pháp quản lý. Chính nhờ những thứ đó mà các nước   tư bản có nền đại chủ nghĩa tư bản phát triển. Các nước XHCN trong đó có Việt Nam phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn và phức tạp, chống nghèo nàn lạc hậu, chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức    chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức chống sự can thiệp và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm bảo vệ  độc lập  và chủ quyền dân tộc. Chính sự vận động của tất cả các mâu thuẫn đó đã dẫn tới hậu quả tất yếu phải đổi mới nền kinh tế nước ta và một trong những thành tựu về đổi mới nền kinh tế là bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần khắc phục được tình trạng độc quyền,  tạo ra động lực cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển. Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần  là đặc trưng cơ bản của kinh tế  quá độ, vừa là tất yếu, cần thiết, vừa là phương tiện  để đạt  được mục tiêu của nền sản xuất xã hội nó vừa tạo  cơ sở làm chủ về kinh tế vừa đảm bảo  kết hợp  hài hoà hệ thống lợi ích kinh tế. Đó là đông lực của sự phát triển.
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại  VietTel mệnh giá 20.000đ sau đó gửi mã số thẻ cào cùng địa chỉ email của bạn và mã tài liệu T128 đến số điện thoại: 0988.44.1615 Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ gửi tài liệu cho bạn và thông báo cho bạn biết
Tài liệu này không có hình ảnh khác

Tài liệu cùng loại

 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang