Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Bộ đếm miễn phí
Từ khóa cần tìm:
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ và gửi mã thẻ cào cùng với địa chỉ Email của bạn và mã tài liệu T121 đến số điện thoại sau đây: 0988.44.1615  

Sau khi nhận được thông tin tôi sẽ gửi tài liệu vào mail cho bạn ngay và thông báo cho bạn biết

Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn, thực trạng và giải pháp

Thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hóa nông thôn là một tất yếu trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nước ta nhằm: 1. Thúc đẩy quá trình phân công lao động ở nông thôn, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho bộ phận dân cư khu vực nông thôn, tăng khả năng tích luỹ nội bộ từ nông thôn và nâng cao khả năng đầu tư vào khu vực nông thôn 2. Mở rộng thị trường, tạo cơ sở phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các ngành kinh tế khác ở nông thôn cũng như trong cả nước. 3. Giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội ở nông thôn, đặc biệt là vấn đề việc làm, khai thác nguồn nhân lực ở mỗi địa phương, khắc phục tình trạng chênh lệch không đáng có giữa các vùng, các dân tộc. 4. Thực hiện đô thị hoá nông thôn, giảm bớt sức ép của dòng di dân từ nông thôn chuyển vào các đô thị, tạo đIều kiện để các đô thị phát triển thuận lợi.


Thông tin chi tiết
Số lượt xem
3351 Lượt xem
Cú pháp nhắn tin
Ngày đưa lên
Đăng ngày 08-05-2012 03:16:53 PM
Mã Tài liệu
T121
Tổng điểm Đánh giá
14 điểm
Chia sẻ
Cho điểm tài liệu này
1 2 3 4 5
Đặt hàng
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ-HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ CÔNG NGHIỆP HOÁ-HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG THÔN.
 
I. TÍNH TẤT YẾU CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ-HIỆN ĐẠI HOÁ.
1. Công nghiệp hoá-hiện đại hoá.  
1.1.Khái niệm.
 
Công nghiệp hoá-hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
 
1.2.Tính tất yếu của công nghiệp hoá-hiện đại hoá.
 
Tất cả các nước khi tiến lên chủ nghĩa xã hội đều phải trải qua thời kỳ quá độ và tiến hành xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Có 2 loại quá độ lên chủ nghĩa xã hội: quá độ tuần tự và quá độ tiến thẳng.
Ở các nước quá độ tuần tự hay còn gọi là những nước quá độ từ chủ nghiã tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mặc dù chưa có cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội nhưng cũng đã có tiền đề vật chất là nền đại công nghiệp cơ khí do chủ nghiã tư bản để lại. Vì vậy, để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, những nước này chỉ cần tiếp tục đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ, ứng dụng thành tựu của nó vào sản xuất, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghiã về quan hệ sản xuất, phân bố và phát triển sản xuất một cách đồng bộ trong cả nước. Thực chất của quá trình này là biến những tiền đề vật chất do chủ nghĩa tư bản để lại thành cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở trình độ cao hơn. 
Ở các nước tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản như ở nước ta, sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chât kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội được thể hiện bằng quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp hoá hiện đại hoá là quá trình biến đổi một nước có nền kinh tế lạc hậu trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Qua các kì đại hội VI,VII,VIII Đảng ta luôn xác định công nghiệp hoá hiện đại hoá là một nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội lần thứ IX của đảng Cộng sản Việt Nam lại một lần nữa xác định mục tiêu cho những năm trước mắt: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển; tập trung sức xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng và công nghệ cao sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị và trang bị lại kĩ thuật công nghệ tiên tiến cho các ngành kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ đáp ứng được nhu cầu quốc phòng, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp”.
 
2. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
2.1. Khái niệm
 
Công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp và bộ mặt kinh tế –xã hội nông thôn, biến lao động thủ công thành lao động cơ giới, đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn hàng hoá; là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp nhằm khai thác mọi tiềm năng tạo ra năng suất lao động, hiệu quả kinh tế-xã hội cao nhất trong nông nghiệp nông thôn, từ đó biến đổi bộ mặt kinh tế-xã hội nông thôn tiến gần đến thành thị.Trong đó:
- Công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình không ngừng nâng cao trình độ khoa học kĩ thuật, công nghệ, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất nông nghiệp.
 
2.2. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn.
 
Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn bao gồm:
- Đưa phương pháp sản xuất công nghiệp, máy móc thiết bị vào sử dụng trong nông nghiệp và sản xuất ở nông thôn để thay thế cho lao động thủ công.
- Áp dụng phương pháp quản lý mới, hiện đại tương ứng với công nghệ và thiết bị vào nông nghiệp nông thôn.
- Tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng thích hợp với việc đưa máy móc thiết bị và công nghệ mới vào nông thôn.
 
II. MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY.
1. Nông nghiệp đã phát triển nhanh về sản lượng đặc biệt là lương thực nhưng chất lượng nông sản còn thấp, khả năng cạnh tranh còn yếu kém.
 
Từ năm 1981 đến nay, nông nghiệp đã phát triển với nhịp độ bình quân hàng năm là 4,5%. Năm 2000 sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp phát triển toàn diện tăng bình quân 5%. Sản xuất lương thực tăng nhanh, bình quân mỗi năm tăng khoảng 1,3 triệu tấn. Lương thực bình quân đầu người tăng từ 370 kg (năm 1995) lên 435 kg (năm 2000). Năng xuất lúa từ 32 tạ/ha (năm 1990) lên 43 tạ/ ha (năm 2000). Sản xuất mầu cũng ổn định, nhất là ngô. Năm 1995 diện tích cả nước mới đạt 55 vạn ha, năng suất 21 tạ /ha, sản lượng 1,184 triệu tấn. Đến năm 1999 diện tích ngô 69 1 vạn ha, năng suất 25 tạ/ha, sản lượng 1,75 triệu tấn. Cây công nghiệp, cây ăn quả có bước phát triển khá bình quân 10 năm1990-1999 so với bình quân 5 năm trước đó: sản lượng lạc tăng 74% cà phê nhân tăng 2,8 lần, cao su tăng 87%, hồ tiêu tăng 68%, chè tăng 27,3%, bông tăng 2,83 lần. Cây ăn quả cả nước năm 1999 đạt 512,8 nghìn ha.
Chăn nuôi có bước tăng trưởng khá cao và ổn định. Bình quân 10 năm 1990-2000 so với bình quân 5 năm trước đó: đàn lợn tăng 20%, bò tăng 10%, sản lượng trứng tăng 33%.
Thuỷ hải sản tăng liên tục. Hoạt động khai thác thuỷ sản trên sông, trên biển phát triển mạnh. Đến năm 2000 cả nước có 229,9 nghìn hộ dân trang bị 7150 tầu đánh cá cơ giới.
(Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 12 năm 2000, trang 6,7,8)
 
Tuy nhiên do sản xuất các mặt hàng nông sản tăng nhanh so với nhu cầu trong nước khiến cho sản lượng hàng hoá cần được xuất khẩu tăng lên. Vì vậy giá cả nông sản phần lớn phụ thuộc vào xuất khẩu. Trong thời gian qua một số mặt hàng nông sản giá xuống thấp: lúa gạo, cà phê, tiêu, … chủ yếu là do xuất khẩu kém hiệu quả. Chính vì vậy để phát triển nông nghiệp chúng ta cần chú trọng đến tiêu thụ sản phẩm, giảm khó khăn cho người nông dân. Muốn giải quyết được vấn đề này cần phải thay đổi cơ cấu và chất lượng sản giống, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến và đồng bộ từ sản xuất đến chế biến, bảo quản để nâng cao chất lượng hàng hoá. Bên cạnh đó để nâng cao khả năng cạnh tranh các mặt hàng nông sản, chúng ta phải đa dạng hoá sản phẩm, tập trung phát triển những mặt hàng chiến lược dựa vào lợi thế so sánh giữa các vùng sản xuất hàng hoá.
 
2. Hình thành các khu vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tập trung
 
Việt Nam đã hình thành các vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh tập trung như: lúa, cao su, cà phê … nhưng nhìn chung vẫn còn phân tán, manh mún, qui mô hộ gia đình nhỏ bé, trước mắt có thể có hiệu quả nhưng về lâu dài thì sẽ là một cản trở cho quá trình công nghiệp, hoá hiện đại hoá.
Trong khi các vùng chuyên canh về cao su, cà phê, chè, tiêu đã khá ổn định thì các vùng chuyên canh khác còn trong quá trình hình thành, ít về số lượng, qui mô nhỏ, chưa ổn định. Các vùng chuyên canh cây ăn quả, chăn nuôi gia súc gia cầm chủ yếu phát triển dựa trên cơ sở các vùng truyền thống, thiếu sự tác động của khoa học công nghệ. Hiện nay cả nước có tới hàng triệu thửa ruộng nhỏ, manh mún tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và miền trung. Những thửa ruộng này chỉ phù hợp với sản xuất bằng lao động thủ công. Đây chính là một trở ngại lớn của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
 
3. Nông nghiệp nước ta đã bước đầu được thuỷ lợi hoá, hoá học hoá, cơ khí hoá, điện khí hoá, áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ nhưng cơ sở hạ tầng còn thấp, lao động thủ công vẫn còn khá phổ biến, trình độ khoa học công nghệ còn thấp so với thế giới.
 
Trong những năm qua nhà nước và nhân dân đã thực hiện nhiều công trình xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên chất lượng các công trình còn thấp cần tiếp tục được tu bổ, nâng cấp, xây dựng mới. Hiện nay chúng ta đã hình thành một hệ thống các công trình phân bố trên phạm vi rộng với 743 hồ chứa nước lớn và vừa, 1017 đập dâng, 4716 cống tưới tiêu, 1796 trạm bơm đIện và hơn 2000 trạm biến thế chuyên dùng cho thuỷ lợi. Đã xây dựng được mạng lưới giao thông nông thôn phát triển theo chiều sâu và rộng. Năm 1994 tỷ lệ xã có đường ô tô về đến trung tâm xã là 86,5%, năm 1999 tăng lên 95%, khoảng 9777 xã. Tuy nhiên đường giao thông lạc hậu đã gây ách tắc về giao lưu hàng hoá trên thị trường. ĐIện đã xuống được thôn xóm nhưng chất lượng còn thấp và giá cả cao so với thu nhập của người dân nông thôn. Năm 1999 có 8 894 143 hộ ở nông thôn có đIện dùng, đạt 69,3% số hộ nông thôn được dùng đIện lưới quốc gia (Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 12 năm 2000 trang 7).
Việc sử dụng các loại hoá chất trong nông nghiệp nước ta ngày một tăng. Mặc dù các loại hoá chất đã góp một phần quan trọng trong việc gia tăng sản lượng nông sản, nhưng cũng đặt ra những vấn đề về môi trường, về sức khoẻ người tiêu dùng, do vậy cần phải hướng dẫn và quản lý chặt chẽ việc sử dụng các loại hoá chất trong nông nghiệp.
Nhờ việc ứng dụng thành tựu cách mạng sinh học trong những năm gần đây, chúng ta đã tạo ra nhiều giống cây trồng, cây lương thực, cây lâm nghiệp, đặc biệt là các loại giống lai có khả năng thích nghi với thời tiết tốt và cho năng suất cao. Trong lĩnh vực chăn nuôi và thuỷ sản, chún ta đã có những giống lợn có tỷ lệ nạc cao, gà công nghiệp có tốc độ sing trưởng nhanh, tốn ít thức ăn. Tuy nhiên trình độ áp dụng thành tựu cách mạng sinh học của nước ta còn thấp nên chưa tạo được các bước đột phá.   
 
4. Công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản có bước tiến bộ đáng kể, nhưng còn nhỏ bé và ở trình độ thấp
4.1. Chế biến nông sản
 
Công nghiệp chế biến lâm sản ở nước ta bước đầu đã vượt qua những khó khăn của thời kỳ đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường và đã có những tiến bộ. Hầu hết các doanh nghiệp chế biến nông sản đã đi vào đầu tư xây dựng nguyên liệu, đổi mới thiết bị và công nghệ, tăng thêm cơ sở và nâng cao năng suất, làm cho năng lực chế biến nông sản tăng nhanh, đặc biệt là công nghiệp chế biến đường. Các doanh nghiệp đã xúc tiến nhanh việc tiếp cận với thị trường trong và ngoài nước, bố trí lại sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm, cải tiến mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của từng thị trường. Hiện nay đã có một số nhà máy xay xát, đánh bóng, phân loại gạo, chế biến đường, cao su… mới được xây dựng, trang thiết bị hiện đại song số lượng còn ít.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực chế biến nông sản còn nhiều mặt yếu kém. Nổi bật là:
- Tỷ trọng nông sản được chế biến còn thấp
- Phần lớn các cơ sở chế biến lúa gạo, chè, mía… được xây dựng từ lâu, quy trình công nghệ lạc hậu
- Chất lượng nông sản chế biến còn thấp, hiệu quả chế biến còn chưa cao nên sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế kém khiến cho người nông dân gặp nhiều thiệt thòi.
 
4. 2. Chế biến lâm sản.
 
Công nghiệp chế biến gỗ nước ta đã phát triển thành một mạng lưới toàn quốc gồm hơn 800 doanh nghiệp cả trong và ngoài nước. Mặc dù các doanh nghiệp đã cố gắng đầu tư chiều sâu, nhập thiết bị công nghệmới để tinh chế và nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng nhìn chung công nghiệp chế biến gỗ ở nước ta còn ở trình độ thấp, sản xuất chủ yếu ở qui mô nhỏ, phân tán, sản phẩm chủ yếu là gỗ xẻ và đồ mộc các loại từ gỗ nguyên chiếm tới 68,5% trong khi đồ mỹ nghệ là 3%. Tuy nhiên việc kết hợp sử dụng công nhân với tay nghề cao đã làm hàng lâm sản chế biến ở nước ta có khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường ở một số mặt hàng như thị trường đồ gỗ ngoài trời ở EU.
 
Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại  VietTel mệnh giá 20.000đ sau đó gửi mã số thẻ cào cùng địa chỉ email của bạn và mã tài liệu T121 đến số điện thoại: 0988.44.1615 Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ gửi tài liệu cho bạn và thông báo cho bạn biết
Tài liệu này không có hình ảnh khác

Tài liệu cùng loại

 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang