Chuyên cung cấp tài liệu


Trang web GiangVien.Net cung cấp các tài liệu cho sinh viên
Đếm Web miễn phí
Từ khóa cần tìm:

Chủ trương của đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh về toàn quốc kháng chiến

Thứ hai - 14/12/2009 11:36
Chủ trương của đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh về toàn quốc kháng chiến

Chủ trương của đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh về toàn quốc kháng chiến

Sau khi giành được độc lập, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa gặp muôn vàn khó khăn tưởng chừng không vượt qua nổi. Vận mệnh của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam lúc đó đứng trước thử thách vô cùng nghiêm trọng. Chính quyền nhân dân có thể bị lật đổ. Nền độc lập vừa mới giành được có thể bị thủ tiêu, nhân dân ta có nguy cơ trở lại cuộc sống nô lệ.

Trước tình hình đó, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đánh giá đúng tình hình, nhận thức rõ những khó khăn, đồng thời cũng thấy được những mặt mạnh cơ bản của cách mạng, đề ra những chủ trương, giải pháp nhằm hy vọng đẩy lùi và ngăn chặn chiến tranh, hoặc hoà hoãn nhằm kéo dài thời gian hoà bình để chúng ta có điều kiện chuẩn bị khi chiến tranh xảy ra.

1- Nỗ lực ngoại giao nhằm ngăn chặn chiến tranh

Sau khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn và mở rộng chiến tranh ra các tỉnh Nam Bộ, ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc", xác định nhiệm vụ của "cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng ấy vẫn đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành vì nước chưa được hoàn toàn độc lập"(1).

Nhưng lúc này nếu cùng một lúc chống cả quân Tưởng và thực dân Pháp, chúng ta sẽ khó đứng vững. Do vậy, để tránh tình thế bất lợi phải cùng một lúc chiến đấu với nhiều lực lượng phản động, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh hoạt động ngoại giao, bằng sách lược hòa hoãn với quân Tưởng, đàm phán với chính phủ Pháp nhằm phá vỡ thế bao vây, uy hiếp của kẻ thù, ngăn chặn chiến tranh, kéo dài thời gian hòa hoãn để xây dựng lực lượng. Từ tháng 9-1945 đến tháng 3-1946, Đảng ta thực hiện chính sách tạm thời hòa hoãn với Tưởng trên miền Bắc để tập trung sức chống thực dân Pháp ở miền Nam. Nội dung nhân nhượng chủ yếu là: cung cấp lương thực cho quân đội Tưởng và tay sai của chúng; mở rộng 70 ghế trong Quốc hội cho Việt quốc và Việt cách không qua bầu cử và đưa một số đại diện của các đảng này vào Chính phủ Liên hiệp lâm thời; các lực lượng vũ trang được lệnh tránh xung đột với quân Tưởng, không để mắc vào cạm bẫy khiêu khích, kiếm cớ lật đổ chính quyền cách mạng của chúng.

Với sách lược ngoại giao sáng suốt này, chúng ta đã làm thất bại âm mưu của Tưởng và thế lực phản động, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân cả nước tập trung lực lượng chống thực dân Pháp ở miền Nam.

Ngày 28-2-1946, Tưởng và Pháp ký Hiệp ước Hoa - Pháp, thỏa thuận cho quân Pháp vào miền Bắc thay thế quân Tưởng để "giữ gìn trật tự" theo "Hiệp ước Quốc tế". Đây là sự mua bán chính trị giữa các thế lực đế quốc nhằm hợp pháp hóa hành động xâm lược của Pháp ở Đông Dương. Sự liên minh giữa Pháp và Tưởng qua Hiệp ước Hoa - Pháp đã đẩy cách mạng nước ta trước "sự đã rồi", buộc Đảng ta phải chọn con đường tạm thời hòa hoãn với Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng về nước, kéo dài thời gian chuẩn bị kháng chiến.

Thực hiện chủ trương đó, ngày 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ Việt Nam ký với đại diện chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ (ngày 6-3-1946). Theo Hiệp định này, về mặt pháp lý, Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Về phía quân Pháp, khi vào miền Bắc được quy định rõ về địa điểm, thời gian và số lượng. Điều 3 của Hiệp định sơ bộ quy định: "Hai bên (Việt Nam và Pháp) đình chiến để mở cuộc đàm phán chính thức và trong khi đàm phán, quân đội hai bên đóng đâu vẫn cứ đóng đấy". Việc ký Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 đã giúp chúng ta "tránh bất lợi phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động..., bảo toàn thực lực, giành lấy giải pháp nghỉ ngơi và củng cố vị trí đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào..."(2).

Trong bối cảnh lịch sử lúc này, việc Chính phủ ta ký với chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo, là "mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lê-nin-nít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch và về sự nhân nhượng có nguyên tắc"(3).

Thực tế, Hiệp định sơ bộ tạo thời gian hòa hoãn để nhân dân ta củng cố thành quả cách mạng mới giành được, chuẩn bị điều kiện đưa sự nghiệp kháng chiến kiến quốc tiến lên một bước phát triển mới. Đối với nhân dân miền Nam, Hiệp định sơ bộ tạo điều kiện cho lực lượng kháng chiến trở lại bám trụ ở thôn, xã, tạo sức mạnh để cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc với tư thế và sức mạnh mới.

Tiếp theo việc ký Hiệp định sơ bộ, ngày 25-3-1946, Phái đoàn Quốc hội Việt Nam do Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm nước Pháp. Ngày 29-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn, thay mặt Chính phủ Việt Nam đàm phán với Chính phủ Pháp. Cuộc đàm phán chính thức Việt - Pháp được tổ chức tại Phông-ten-nơ-blô. Tuy nhiên, do dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, cuộc đàm phán không đi đến kết quả. Tuy vậy, Chính phủ Việt Nam vẫn kiên trì con đường đàm phán hòa bình.

Cũng trong thời gian này, theo lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường thăm chính thức nước Pháp. Trong thời gian thăm Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ nhiều nhân vật quan trọng trong chính phủ Pháp như Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ma-ri-út Mu-tê, cùng các chính khách và đại diện các đảng phái, tổ chức chính trị ở Pháp. Ngày 14-9-1946, Người đã ký với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp bản Tạm ước Pháp - Việt, quy định một số điều về quan hệ tạm thời kinh tế, văn hóa giữa hai nước, đình chỉ chiến sự ở miền Nam, quyết định thời gian tiếp tục đàm phán Việt - Pháp vào đầu năm 1947.

Cũng với mục đích tiếp tục đàm phán nhằm đẩy lùi, hoặc tạm hoãn chiến tranh, trên đường về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có cuộc gặp Cao uỷ Pháp Đác-giăng-li-ơ tại vịnh Cam Ranh vào ngày 18-10-1946 để bàn cách thức thực hiện Tạm ước 14-9. Trong cuộc gặp gỡ này, Cao ủy Pháp đồng ý bổ nhiệm một đại diện của Chính phủ Việt Nam để phối hợp thực hiện ngừng bắn, nhưng đòi quân đội Việt Nam tại miền Nam rút về miền Bắc. ý đồ này của Pháp không được Người chấp nhận.

Cuộc gặp gỡ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cao ủy Pháp tại vịnh Cam Ranh là nỗ lực cuối cùng của Chính phủ Việt Nam trong hàng loạt hoạt động ngoại giao vào những năm 1945-1946, nhằm đẩy lùi chiến tranh hoặc là hòa hoãn, kéo dài thời gian hòa bình để chúng ta thực hiện nhiều công việc cần kíp khác. Nhưng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến": "Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta đã nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa"(4).

2- Nhận rõ âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, chủ trương tích cực chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến

Việc các nước đế quốc đem quân vào nước ta với dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam không phải là điều bất ngờ đối với chúng ta. Ngay từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai chưa kết thúc, Đảng ta đã chỉ rõ: "Quân Đồng minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương"(5); "Sự mâu thuẫn giữa Anh - Pháp - Mỹ và Liên Xô có thể làm cho Anh - Mỹ nhân nhượng với Pháp để Pháp trở lại Đông Dương"(6).

Đúng như dự đoán của Đảng ta, chỉ 21 ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tuyên bố thành lập, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của Pháp đối với Việt Nam. Cùng với chủ trương đẩy mạnh hoạt động ngoại giao nhằm ngăn chặn chiến tranh, hòa hoãn với các thế lực đế quốc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đẩy mạnh việc xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, tích cực chuẩn bị lực lượng để tiến hành kháng chiến.

Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc", ngày 25-11-1945, của Trung ương Đảng xác định nhiệm vụ chiến lược lúc này vẫn là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, khẩu hiệu đấu tranh lúc này vẫn là "Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết". Kẻ thù chính của ta là "thực dân Pháp xâm lược nên phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng", và đề ra nhiệm vụ trước mắt là củng cố chính quyền cách mạng, chống thực dân Pháp, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân. Những nhiệm vụ này quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau và phải đồng thời được thực hiện.

Trong khi đàm phán hòa bình và chuẩn bị kháng chiến, Đảng ta quán triệt quan điểm: "Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp, không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy, và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta"(7).

Với tinh thần đó, trong quá trình đàm phán với Pháp, chúng ta đã tận dụng thời gian hòa hoãn để triển khai một loạt công việc cần kíp can hệ đến an ninh đất nước. Trước hết, đó là việc củng cố, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, tổ chức việc tiến hành Tổng tuyển cử, thành lập Chính phủ, soạn thảo Hiến pháp, kiện toàn chính quyền từ trung ương đến cơ sở, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất. Đảng rút vào hoạt động bí mật để tránh sự công kích của các thế lực thù địch...

Về kinh tế - tài chính, Đảng tổ chức lạc quyên cứu đói, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, khôi phục các nhà máy, hầm mỏ, lập ngân hàng, phát hành giấy bạc, tịch thu ruộng đất của địa chủ, phản động, chia lại ruộng đất, giảm tô cho nông dân, phát động nhân dân tự nguyện đóng góp tiền của thông qua "Tuần lễ vàng", "Quỹ độc lập", thực hiện chế độ đảm phụ quốc phòng ...

Về văn hóa - xã hội, Đảng vận động toàn dân xây dựng nền văn hóa mới, xóa bỏ tệ nạn xã hội, thực hiện nền giáo dục mới, phát động phong trào "bình dân học vụ" để diệt "giặc dốt"...

Đi đôi với việc củng cố, xây dựng chính quyền cách mạng, Đảng ta chú trọng xây dựng quân đội quốc gia và lực lượng công an Việt Nam.

Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Việt Nam giải phóng quân đã phát triển và đổi thành Vệ quốc đoàn. Đến khi Chính phủ kháng chiến được thành lập, Vệ quốc đoàn được đổi thành Quân đội quốc gia Việt Nam. Cuối năm 1946, lực lượng vũ trang tập trung ở Bắc Bộ và Trung Bộ có 30 trung đoàn, ở Nam Bộ có 25 chi đội. Tổng số quân gồm khoảng 80 vạn người. Ngoài ra, chúng ta đã tổ chức được gần 1 triệu du kích và tự vệ.

Đối với ngành công an, ngày 21-2-1946, theo sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam công an vụ được thành lập trên cơ sở hợp nhất Sở Cảnh sát và Sở Liêm phóng. Lực lượng công an Việt Nam đã lớn mạnh và thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, trung kiên trong cuộc đấu tranh giữ gìn trật tự xã hội, an ninh quốc gia, đập tan các âm mưu phản loạn của các thế lực thù địch, bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước, bảo vệ cuộc sống yên lành của nhân dân.

Tuy chúng ta chỉ có một thời gian ngắn hoà bình trong hòa hoãn, nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân cả nước đã đẩy mạnh củng cố, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, tích cực chuẩn bị lực lượng để kháng chiến một khi khả năng hoà hoãn và hòa bình không còn nữa.

3- Phát động kháng chiến toàn quốc khi thực dân Pháp bội ước

Từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Sài Gòn và Nam Bộ, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì thực hiện đàm phán hòa bình với Chính phủ Pháp. Nhưng thực tế ở Đông Dương cho thấy, chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. "Cái bộ ba Đác-giăng-li-ơ, Pin-hông, Va-luy sau khi đã cân nhắc đắn đo kỹ lưỡng, đã cố tình gây ra xung đột nhằm loại bỏ ông Hồ Chí Minh và Việt Minh trước khi nối tiếp lại những cuộc đàm phán như đã dự định"(8).

Thực dân Pháp đã bội ước Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, Tạm ước ngày 14-9-1946, tấn công nhiều nơi ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, khiêu khích nhiều nơi ở miền Bắc, từng bước leo thang chuẩn bị chiến tranh. Quân Pháp tổ chức tấn công Hải Phòng, Lạng Sơn, gây hấn ở Hà Nội, gây ra vụ tàn sát ở phố Hàng Bún, phố Yên Ninh ngày 17-12-1946. Chúng liên tiếp gửi tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam đòi được làm nhiệm vụ trị an ở Hà Nội, nếu không chấp nhận thì ngày 20-12-1946, chúng sẽ chuyển sang hành động.

Đứng trước tình hình thực dân Pháp đang mở rộng chiến tranh ra Thủ đô Hà Nội hòng lật đổ Chính phủ kháng chiến, tiêu diệt chính quyền dân chủ nhân dân, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng tình hình và quyết định phát động chiến tranh cách mạng trên toàn quốc chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp - một quyết định chiến lược để xoay chuyển tình thế khi Tổ quốc lâm nguy.

Đêm 19-12-1946, quân và dân Hà Nội mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc với tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".

Đêm 19 rạng sáng ngày 20-12-1946, thay mặt Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến".

Hai khổ đầu trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói lên được lòng yêu hòa bình, sự nhân nhượng để đổi lấy hòa bình, nhưng kiên quyết đứng lên thà hy sinh tất cả để bảo vệ tự do và độc lập: "Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"(9).

Hà Nội, với tiếng súng từ pháo đài Láng đã mở đầu cho cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân ta. Cuộc chiến đấu 60 ngày đêm của quân và dân Hà Nội không chỉ đã tiêu diệt, tiêu hao một phần sinh lực địch, mà còn kìm chân địch trong thành phố để hậu phương tổ chức triển khai thế trận kháng chiến lâu dài, để bảo vệ cuộc tổng di chuyển các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ và các bộ, ngành về căn cứ an toàn, tiếp tục cuộc kháng chiến thần thánh, trường kỳ nhưng kết thúc thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta.

Tác giả bài viết: Phạm Quang Tùng

Nguồn tin: Internet

Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin cũ hơn

 
(Chú ý: Website đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm, đang định xin giấy phép MXH của Bộ TT & TT)
Lên đầu trang