Thực trạng và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản việt nam sang thị trường Mỹ.
Đăng ngày 20-07-2012 Lúc 10:31'- 1949 Lượt xem
Giá: 5 000 VND / 1 Tài liệu

CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU THUỶ SẢN

SANG THỊ TRƯỜNG MỸ

 

1.  QUAN  HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – MỸ VÀ NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM

1.1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM- MỸ.

1.1.1  Giai đoạn trước khi Mỹ huỷ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam.

Bước sang thập kỷ 90, quan hệ ngoại giao cũng như quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước Việt Nam và Mỹ đã có những bước tiến đáng kể, nỗ lực hướng tới các mối quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng cùng có lợi, vì lợi ích chung của mỗi nước cũng như vì hoà bình và thịnh vượng chung trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương và trên thế giới.
Về quan hệ thương mại, từ ngày 30/4/1992, Mỹ cho phép xuất sang Việt Nam những mặt hàng phục vụ nhu cầu cơ bản của con người, từ ngày 14/12, cho phép các công ty Mỹ được lập văn phòng đại diện và ký hợp đồng kinh tế ở Việt Nam nhưng chỉ được giao dịch sau khi lệnh cấm vận được xoá bỏ. Ngày2/7/1993, Mỹ không ngăn cản các tổ chức tài chính quốc tế nối lại viện trợ cho Việt Nam; Từ ngày 14/9/1993, Mỹ đã cho phép các công ty của mình tham gia đấu thầu các dự án phát triển ở Việt Nam do các tổ chức tài chính quốc tế tài trợ.

 1.1.2  Giai đoạn sau khi lệnh cấm vấn được huỷ bỏ.

Ngày 3/2/1994, căn cứ vào những kết quả rõ ràng của việc giải quyết vấn đề POW/MIA và dựa vào cuộc bỏ phiếu tại Quốc hội Mỹ, Tổng thống Mỹ đã chính thức tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam. Và ngay sau đó, Bộ thương mại Mỹ đã chuyển Việt Nam lên nhóm Y- ít hạn chế về thương mại hơn (gồm Liên Xô cũ, Anbani, Mông Cổ, Lào, Campuchia và Việt Nam). Đồng thời Bộ vận tải và Bộ thương mại cũng bãi bỏ lệnh cấm tàu biển và máy bay Mỹ vận chuyển hàng hoá sang Việt Nam, cho phép tàu mang cờ Việt Nam vào cảng Mỹ. Trong chuyến thăm Việt Nam của ngoại trưởng Mỹ W.Christopher ngày 5/8/1995, hai bên nhất trí đẩy mạnh quan hệ kinh tế- thương mại và xúc tiến những biện pháp cụ thể để tiến tới ký Hiệp định thương mại làm nền tảng cho quan hệ buôn bán song phương.
Ngày 13/7/2000, tại Washington, Bộ trưởng thương mại Việt Nam Vũ Khoan và Bà Charleen Barshefski, Đại diện thương mại thuộc chính phủ Tống thống Mỹ đã thay mặt Chính phủ hai nước ký Hiệp định thương mại giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, khép lại một quá trình đàm phán phức tạp kéo dài 4 năm ròng, đánh dấu một bước tiến mới trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ.

1.2 HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ.

1.2.1  Nội dung cơ bản của Hiệp định thương mại Việt Nam -Mỹ.

Với 7 chương, 72 điều và 9 phụ lục, Hiệp định thương mại Việt Nam-Mỹ được coi là một văn bản đồ sộ nhất, đồng bộ nhất trong tất cả các Hiệp định thương mại song phương mà Việt Nam đã ký kết. Không chỉ đề cập tới thương mại hàng hoá mà hiệp định còn đề cập tới thương mại dịch vụ; đầu tư;  sở hữu trí tuệ; tạo thuận lợi cho kinh doanh; những quy định liên quan đến tính minh bạch, công khai và quyền khiếu nại…
Thông qua những chương mà Hiệp định đề cập ta có thể nhận thấy là khái niệm  “thương mại” của Mỹ là rất rộng và bao hàm cả nghĩa “kinh tế” trong đó nữa. Việc ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam-Mỹ đáp ứng được cả lợi ích của cả hai bên, chắc chắn sẽ có tác dụng tích cực không chỉ đến quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ mà còn tới mối quan hệ đối ngoại khác trong khu vực và trên thế giới.

1.2.2 Thuận lợi và khó khăn đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.

Hiệp định thương mại Việt Nam - Mỹ là dấu hiệu tốt trong quá trình hội nhập của Việt Nam vào hệ thống kinh tế thương mại quốc tế. Hiệp định thương mại Việt – Mỹ sẽ mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng kèm theo không ít khó khăn, thách thức.
1.2.2.1 Thuận lợi.
Thứ nhất, Hiệp định thương mại Việt Nam – Mỹ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam sớm gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Đây là lần đầu tiên Việt Nam đàm phán để ký kết Hiệp định thương mại dựa trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn mực của WTO. Do đó, nếu ta thực hiện được những cam kết theo Hiệp định thương mại thì có nghĩa là chúng ta cũng sẽ đáp ứng được những yêu cầu căn bản của WTO và giảm được đáng kể các khó khăn trong tiến trình cam kết và thực hiện cam kết để sớm trở thành thành viên của WTO. Và do trình độ phát triển chênh lệch nhau nên phía Mỹ đồng ý thực hiện ngay các điều khoản trong hiệp định, phía Việt Nam sẽ có một giai đoạn chuyển tiếp nhất định để thực hiện các cam kết. Điều này sẽ giúp cho Việt Nam có thể làm quen dần với những chuẩn mực quốc tế, từ từ hoà nhập với nền kinh tế thế giới. 
Thứ hai, Hiệp định có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh hiện nay của Việt Nam. Hiệp định thương mại được ký kết lần này như một lời hứa hẹn chắc chắn với các nhà đầu tư nước ngoàI yên tâm để dồn vốn đầu tư vào Việt Nam nhiều hơn. Không những thế, môi trường làm ăn thuận tiện hơn còn có tác dụng khơi thông cả nguồn vốn trong nước.
 Thứ ba, việc thực hiện Hiệp định thương mại cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm các cơ hội kinh doanh mới trên thị trường Mỹ, mở rộng thị trường xuất khẩu và phát triển quan hệ với các đối tác Mỹ. Các doanh nghiệp sẽ có điều kiện để tiếp cận với nền kinh tế phát triển vào bậc nhất thế giới này, qua đó học hỏi thêm được những kinh nghiệm trong quản lý và kinh doanh..
Thứ tư, Hiệp định còn tạo điều kiện để Việt Nam tiếp nhận công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến thông qua đầu tư trực tiếp. Các doanh nghiệp sản xuất trên đất Việt Nam sẽ tiếp cận thị trường Mỹ được dễ dàng hơn, thu hút được nguồn tư bản dồi dào, nguồn công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ các nhà đầu tư  Mỹ.
Tóm lại, những cơ hội mà Hiệp định thương mại mở ra là vô cùng to lớn. Tuy nhiên,  đó mới chỉ là điều kiện đủ để hàng hoá của ta có thể thâm nhập vào thị trường Mỹ. Mà điều quan trọng nhất, theo lời của Bộ trưởng Bộ thương mại Vũ Khoan khẳng định, là làm sao để nâng cao được khả năng cạnh tranh của Việt Nam ở 3 cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và mặt hàng.
1.2.2.2 Khó khăn.
Bên cạnh những cơ hội trên, việc thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam - Mỹ còn nhiều thách thức đối với Việt Nam, nhất là đối với các doanh nghiệp. 
Thứ nhất, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong nước sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh lớn hơn. Hiệp định thương mại sẽ mở cửa cho hàng hoá của Mỹ vào thị trường Việt Nam, khả năng cạnh tranh của các mặt hàng này sẽ cao hơn so với các sản phẩm nội địa cùng loại. Các doanh nghiệp của Mỹ và các nước khác đầu tư vào thị trường Việt Nam sẽ tăng lên, do đó sẽ gây áp lực lên các doanh nghiệp sản xuất trong nước. Và trong lĩnh vực thương mại tình trạng cũng diễn ra tương tự. Hoạt động xuất nhập khẩu một số mặt hàng trước đây chủ yếu do một số doanh nghiệp thực hiện thì nay một số doanh nghiệp nước ngoàI cũng được phép tham gia. Nếu không có sự chuẩn bị cần thiết, các doanh nghiệp này sẽ gặp phải nhiều khó khăn trong cạnh tranh.
Thứ hai, Hệ thống luật pháp của Việt Nam còn nhiều yếu kém. Trong khi đó, Mỹ lại là một đối tác quá lớn, qúa hùng mạnh; hệ thống pháp luật rất phức tạp, ngoài luật liên bang thì mỗi bang lại có thể lệ riêng. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam khi tiến hành xuất khẩu sang thị trường Mỹ thì phảI tìm hiểu luật pháp của Mỹ một cách cặn kẽ và rõ ràng.
Thứ ba, Các doanh nghiệp Việt Nam thường chưa hiểu biết nhiều về phong cách kinh doanh của người Mỹ. Cho nên nhiều khi dẫn đến việc bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh mà đôi khi còn bị thiệt thòi vì những lý do không đáng có. Bên cạnh đó, với trình độ quản lý còn yếu kém, năng lực sản xuất còn nhiều hạn chế…làm cho sản phẩm của ta bị giảm năng lực cạnh tranh với các bạn hàng mậu dịch của Mỹ.
Thứ tư, các sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn  hiện nay của Việt Nam sang Mỹ là giày dép, nông hải sản và dệt may. Các sản phẩm này cũng được kỳ vọng là sẽ thúc đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, hiện nay, những mặt hàng này lại gặp không ít khó khăn trong tiếp cận thị trường, đặc biệt là khi phía Mỹ áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt may, và duy trì hạn ngạch thuế quan đối với hàng nông sản. Đối với mặt hàng hải sản, thực ra cơ hội mới không nhiều vì chênh lệch giữa mức thuế MFN (0%) và thuế phổ thông (1.7%) là không đáng kể.
Mặt khác, chúng ta chỉ là bạn hàng mới trong nhiều bạn hàng truyền thống của Mỹ cho nên ta không dễ dàng mở rộng thị phần do nhiều yếu tố khác nhau tác động như tiếp thị, tiếp cận mạng lưới phân phối. Và, về mặt tâm lý, thì muốn tiến hành giao dịch với giá trị lớn thì phải có mối quan hệ kinh doanh bền vững và có đủ thời gian hiểu nhau cần thiết. Không những thế, thị hiếu tiêu dùng của khách hàng vốn quen với sản phẩm của các nước khác, không dễ gì có thể thay đổi ngay được trong khi hàng Việt Nam với chất lượng và giá cả chưa hấp dẫn một cách vượt trội.
Tóm lại, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ nói riêng và hội nhập  nền kinh tế thế giới nói chung mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức. Vấn đề là chúng ta khai thác cơ hội, tháo gỡ khó khăn, thách thức như thế nào.
2. ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG MỸ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM.
2.1  Đặc điểm về thị trường Mỹ.

2.1.1  Đặc điểm về kinh tế.

Nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế thị trường, hoạt động theo cơ chế thị trường cạnh tranh. Hiện nay, nó được coi là nền kinh tế lớn nhất thế giới với tổng giá trị sản phẩm quốc nội bình quân hàng năm trên 10.000 tỷ USD, chiếm trên 20% GDP toàn cầu và thương mại chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch thương mại quốc tế. Với GDP bình quân đầu người hàng năm trên 30.000 USD và số dân là 280 triệu người. Có thể nói, Mỹ là một thị trường có sức mua lớn nhất thế giới.
Thị trường Mỹ vừa là nơi thuận lợi cho đầu tư nước ngoài lại vừa là nơi đầu tư ra nước ngoài hàng đầu thế giới. Mỹ là nước đi đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực như công nghệ máy tính và viễn thông, nghiên cứu hàng không vũ trụ, công nghệ gen và hoá sinh và một số lĩnh vực kỹ thuật cao khác. Mỹ cũng là nước nông nghiệp hàng đầu thế giới. Mỹ còn là nước đi đầu trong quá trình quốc tế hoá kinh tế toàn cầu và thúc đẩy tự do hoá thương mại phát triển. Nhưng Mỹ cũng là nước hay dùng tự do hoá thương mại để yêu cầu các quốc gia khác mở cửa thị trường của họ cho các công ty của mình nhưng lại tìm cách bảo vệ nền sản xuất trong nước thông qua hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường...
Nền kinh tế Mỹ đang dần dần hạ cánh, tốc độ tăng trưởng chững lại. Tuy nhiên, hiện tại và trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21 này, Mỹ cũng sẽ vẫn tiếp tục là một nền kinh tế mạnh nhất, có ảnh hưởng lớn đến kinh tế toàn cầu.

2.1.2  Đặc điểm về chính trị

Hệ thống chính trị của Mỹ hoạt động theo nguyên tắc tam quyền phân lập. Hiến pháp quy định ba nhánh quyền lực chính riêng rẽ: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Mỗi nhánh là một bộ máy kiểm soát đối với hai nhánh kia, tạo nên một sự cân bằng để tránh lạm dụng quyền lực hoặc tập trung quyền lực.
Quyền lập pháp tối cao ở Mỹ được quốc hội thực hiện thông qua hai viện: Thượng nghị viện và Hạ nghị viện. Công việc của hai viện phần lớn được tiến hành tại các Uỷ ban.
Hệ thống hành pháp được phân chia thành hai cấp chính phủ: Các Bang và Trung ương. Các Bang có những quyền khá rộng rãi và đầy đủ. Các Bang thực hiện điều chỉnh thương mại của Bang, điều chỉnh hoạt động của các công ty, đưa ra các quy định về thuế …cùng với Chính phủ Trung ương.
Một đặc điểm lớn về chính trị của Mỹ là thường hay sử dụng chính sách cấm vận và trừng phạt kinh tế để đạt được mục đích của mình.

2.1.3 Đặc điểm về luật pháp.

Mỹ có một hệ thống luật pháp chặt chẽ, chi tiết và phức tạp hàng đầu thế giới. Khung luật cơ bản cho việc xuất khẩu sang Mỹ gồm luật thuế suất năm 1930, luật buôn bán năm 1974, hiệp định buôn bán 1979, luật tổng hợp về buôn bán và cạnh tranh năm 1988… Các luật này đặt ra nhằm điều tiết hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ; bảo vệ người tiêu dùng và nhà sản xuất khỏi hàng giả, hàng kém chất lượng; định hướng cho các hoạt động buôn bán; quy định của Chính phủ với các hoạt động thương mại.
- Về luật thuế: Để vào được thị trường Mỹ, điều cần thiết và đáng chú ý đối với các doanh nghiệp là hiểu được hệ thống danh bạ thuế quan thống nhất (The Harmonised Tariff schedule of the Unitedstated-HTS) và chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (Generalised System of Preferences-GSP).
- Về hải quan: Hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ được áp dụng thuế suất theo biểu thuế quan Mỹ gồm 2 cột: cột 1 quy định thuế suất tối huệ quốc, cột 2 quy định thuế suất đầy đủ hoặc thuế suất pháp định áp dụng cho các nước không được hưởng quy chế Tối huệ quốc.
Một vấn đề nữa mà các doanh nghiệp cần lưu ý về môi trường luật pháp của Mỹ là Luật Thuế đối kháng và Luật chống phá giá cùng những quy định về Quyền tự vệ, Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trách nhiệm đối với sản phẩm. Đây là công cụ để Mỹ bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước, chống lại hàng nhập khẩu.
Array
(
    [type] => 8192
    [message] => preg_replace(): The /e modifier is deprecated, use preg_replace_callback instead
    [file] => /home/pwhqfmvb/GiangVien/includes/countries.php
    [line] => 435
)